Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Câu hỏi 326 : Ung thư phổi

Con xin chào thầy,

Con tên là Vũ Thị Huê, ở Tp.Vũng Tàu. Năm nay con được 47 tuổi, giới tính: nữ.

Con bị bệnh ung thư phổi tới nay cũng đã được 10 tháng, con cũng đã vào thuốc hóa trị được 6 lần. Bác sĩ chuẩn đoán bệnh của con là do chèn dây thần kinh liên sườn lâu ngày làm cho tràn dịch màng phổi, phổi ngâm nước quá lâu nên thành bệnh ung thư màng phổi.

Sau khi hóa trị đủ 6 lần, ai chỉ thuốc nam hay bắc gì con cũng đều uống thử, nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm. Hiện tại, con không có ho hay đàm. Chỉ có khi hắt hơi, hắt xì là không được. _Huyết áp của con đo trước khi ăn 30 phút: tay trái (98,65,92); tay phải (99,59,85).

_Huyết áp sau khi ăn 30 phút: tay trái (94, 61, 93); tay phải (96,64,86)

_Chân tay con không nóng chỉ có chân là lạnh. Đi ngoài thì thỉnh thoảng phân hơi bón.

_Hơi thở của con ngắn, luôn phải hít sâu để lấy hơi. Đi bộ chừng 1-2 phút là mệt.

_Con luôn có cảm giác rát, nóng ngoài da phần dọc theo bên phải hông, chỗ phổi.

Dây thần kinh chèn, kéo cơ vai phải làm cho vai phải bị lệch xuống nhiều so với vai trái, tức ngực khó thở, nhức, đau vai phải. Vai, cổ luôn mỏi rã rời.

_Cứ khoảng 2 tiếng là con lại bị đau, tức ngực, phổi phải chừng 10-15 phút.

Hiện tại, con đang ăn chay trường. Kính mong thầy từ bi giúp đỡ, chỉ cho con phương pháp chữa khỏi bệnh.Con xin chân thành cảm ơn thầy.

Kính thư.

Vũ Thị Huê

Trả lời :

Tôi đã nhắc nhở nhiều lần, nguyên nhân ung thư là do tề bào thiếu máu nuôi dưỡng giống như cây đã hơn 10 năm trở lên mà không tưới đủ nước nuôi cây, thì tế bào cây sẽ chết trở thành tế bào ung thư, là tế bào không còn sức sống để làm việc nữa. Con người cũng vậy, khi thiếu máu nuôi dưỡng tế bào cũng đã được báo trước cho mình hay là nhờ máy đo áp huyết, tức là máy đo máu, áp huyết là khí và máu trong cơ thể phải đúng theo tiêu chuẩn tuổi như dưới đây :

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Cháu 47 tuổi thì khí huyết phải lọt vào tiêu chuẩn sau :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

nhưng trên thực tế áp huyết của cháu chỉ đủ nuôi một cơ thể của đứa trẻ 5 tuổi : tay trái (94, 61, 93); tay phải (96,64,86).

Như vậy bệnh ung thư là nguyên nhân do thiếu máu.

Chữa ung thư theo hóa trị là chữa ngọn, chữa xong cũng bị chết, vì không làm tăng khí tăng máu, ngược lại còn làm đau đớn mệt mỏi mất khí, thiếu máu thêm, khi áp huyết xuống 70 là chết. Còn chữa gốc là phải bổ máu, bổ khí gấp gấp, giúp phục hồi lại sự sống cho các tế bào, ngưng ngay cách chữa hóa trị.

Uống ngay bài thuốc này sẽ thấy cơ thể khỏe mạnh, ăn ngủ ngon, không đau đớn mệt mỏi

Ích khí dưỡng âm trị áp huyết thấp :Phù Chính Thăng Áp Thang Gia Vị :

Hoàng Kỳ 30g, Sinh Địa 24g, A Giao, Mạch Đông, Chích Thảo, Trần Bì mỗi thứ 15g, Ngũ Vị Tử 12g, Chỉ Xác, Nhân Sâm, mỗi thứ 10g.

Sắc 4 chén nước, cạn còn 1 chén, uống nóng vào buổi tối. Trước khi uống đo áp huyết 2 tay, sáng dậy đo áp huyết 2 tay để so sánh xem áp huyết tăng lên đúng tiêu chuẩn chưa, uống mỗi ngày 1 thang, trong 3-6 tháng, khi áp huyết lên đúng tiêu chuẩn thì ngưng.

Tập khí công :

Nguyên nhân tràn dịch màng phổi là trong phổi bị nhiệt, bao tử hàn, nên phổi mới hút nước vào, giống như thời tiết bên ngoài nóng, tượng trưng cho phổi, bao tử hàn tượng trưng cho ly nước đá, ngoài ly thì khô tượng trưng cho màng phổi, để lâu thì ngoài ly có đần nước, không phải nước trong ly thấm ra ngoài. Nếu chỉ là ly nước thường, thì không có hiện tượng ngoày ly có nước, có nghĩa là nhiệt độ trong và ngoài ly giống nhau.

Khi màng phổi có nước thì không khí trong phổi không chứa đủ oxy, nên khó thở, càng hít vào càng làm trương phổi hút nước nhiều hơn, nên ung thư phổi chưa chữa xong thì cũng chết vì thiếu hơi thở. Do đó cần phải tập thở theo khí công làm tăng cường thêm oxy để bảo quản công thức máu Fe2O3.

Như vậy muốn dễ thở, muốn có nhiều oxy trong máu, muốn giảm đau tức ngực, thì cách thở là thổi hơi ra bằng miệng như thổi bếp lử nhẹ nhẹ đều đếu, không hít vào, chỉ vừa thổI hơi ra xong thì há miệng hít vào miệng một ít khí cho đầy miệng lạI thổi hơi ra, rồi lại há miệng hít nhẹ một ít khí vào miệng để thổi hơi ra tiếp. Nguyên tắc thổi chậm, nhẹ, đều đặn, bình thường không dùng sức, để làm sao thổi hoài cũng không mệt. Thổi như vậy một lúc lâu 30 phút sẽ thấy hết đau ngực, và cảm thấy người khỏe.

Còn những lúc không tập thổi, mà muốn có hơi dài, cơ thể có nhiều oxy, thì tập luyện thở bằng miệng chứ không phải bằng mũi, suốt ngày niệm 4 chữ A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật. Đọc 3 câu trong một hơi, 3 câu tiếp xong một hơi… rồi tập lúc đi đứng nằm ngồI làm việc, nghỉ ngơi, cứ dùng 3 câu này thay cho hơi thở bình thường, nó có công dụng vừa tự lực tập thở để tăng khí lực, tăng oxy, tiết nước miếng giúp ăn ngủ ngon, giảm đau, tăng hồng cầu, vừa có tha lực hộ trì, vì Phầt A Di Đà là vua của các chư Phật 10 phương thế giới đều hộ trì cho mình, trong 6 tháng bệnh sẽ khỏi mà không cần dùng thuốc chữa bệnh.

Nhiều người áp dụng cách niệm Phật thay cho hơi thở, mỗi ngày 30 ngàn câu đã khỏi hẳn những bệnh nan y, ung thư. Hãy cố gắng khi vấp ngã tự đứng dậy mà đi !

Thân

doducngoc

Câu hỏi 325 : Bệnh tăng tiểu cầu, bác sỹ kết luận ung thư máu

Kính gửi thầy Ngọc,

Đầu thư con xin chúc thầy - với những gì thầy đã làm và đóng góp cho sức khỏe của cộng đồng người Việt nói chung và con người nói riêng - những lời chúc tốt đẹp nhất!

Con tên là Trần Kiên (nam), sinh năm 1973 tại Hà Nội (quê ở Ninh Bình). Con là kỹ sư tin học (phần mềm) đang công tác tại Trung tâm Công nghệ thông tin của Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Trong quá trình tìm hiểu để theo học 1 môn khí công giúp tăng cường sức khỏe chữa bệnh (lúc đó con chưa phát hiện bệnh tật gì), con đã biết và đến thăm website về Khí công Y đạo của thầy. Qua những tài liệu và thông tin trên website, con rất khâm phục nghị lực của thầy (thầy đã từng bị nguy cơ ung thư máu phải không?) và kính ngưỡng những gì thầy đã làm và đóng góp cho mọi người với tinh thần phi vụ lợi. Con cũng rất tâm đắc với y đạo của bộ môn này với tinh túy nằm ở 3 chữ Tinh - Khí - Thần (trước đây con đã có ý định theo học Thái cực quyền vì cũng là 1 bộ môn khí công) vì con (trước đây) cũng chịu khó tập luyện và rất mê truyện chưởng (nhất là những chuyện nói về đạo gia với khí công và nội công thâm sâu như các tác phẩm của nhà văn Huỳnh Dị).

Nay khi bị bệnh, con càng mong muốn được gặp và gửi thư cho thầy để nhờ giúp đỡ. Con rất mong thầy hướng dẫn và chỉ lối cho con tìm được con đường loại bỏ bệnh tật, khôi phục sức khỏe bình thường. Con sẵn sàng và tự tin có đủ nghị lực và sự quyết tâm để theo đuổi rèn luyện Tinh - Khí - Thần theo bộ môn Khí công Y đạo của thầy để chữa lành bệnh.
Bệnh tình của con hiện nay có thể được tổng kết như sau:

1- Bệnh tình: 2 bệnh chính:

(1) Tăng tiểu cầu:

Kết quả kiểm tra máu ngày 19.6.12 cho thấy tiểu cầu tăng (573 trong khi chỉ số bình thường là 150-450 - đơn vị là K/ml), bạch cầu cũng tăng (11.48 trong khi chỉ số bình thường là 4.3-10.8), hồng cầu thì bình thường (5.37 trong khi chỉ số bình thường là 4.3-5.8), lách to (13cm), tĩnh mạch cửa hơi giãn. Bác sỹ bắt xét nghiệm tiếp huyết đồ, tủy đồ và gen Lơ xê mi. Kết quả chi thấy công thức máu bị tăng tiểu cầu, gen lơ xê mi dương tính.
Bác sỹ của bệnh vện Bạch Mai Hà Nội (1 trong các bệnh viện được đánh giá là hàng đầu ở Hà Nội và Việt Nam) kết luận là ung thư máu, phải uống thuốc hóa chất (có 3 loại trong đó có 1 loại là Hydroxyurea) và dặn phải uống thường xuyên kẻo bị tắc mạch máu, 15 ngày sau khám lại. Bác sỹ cũng nói tiên lượng không tốt, những bệnh nhân kiểu này chỉ sống trong vòng 1-6 năm tùy từng người.

Tuy nhiên con đem kết quả trên đến bệnh viên K trung ương và viện Huyết học TƯ thì bác sỹ lại nói không phải là ung thư máu, chỉ là tăng tiểu cầu, không phải uống thuốc hóa chất (thực ra là chưa cần, chỉ khi nào tăng từ 800 trở lên mới cần uống). Bác sỹ của 2 bệnh viện này nói chỉ cần uống aspirin 100mg (1 gói 1 ngày), khám thường xuyên công thức máu hàng tháng. Tiên lượng là bình thường và sống cả đời với thuốc (như kiểu cao huyết áp).

(2) Tức dưới bàng quang và nhiều khi là tức cả bụng dưới:

Mỗi khi con uống nước lọc, bia, nước trà (nói chung là dung dịch nước) thì bị kích thích đi tiểu (bàng quang căng tức, nhiều khi căng tức cả bụng dưới, đặc biệt căng tức khi cố nhịn tiểu hoặc đang cố ngồi thêm ở ghế văn phòng để làm việc hoặc đang đi xe máy. Có lúc đi tiểu chỉ được ít nước, có lúc bình thường (tùy thuộc lượng nước uống vào trước đó), nước tiểu bình thường, không đau buốt khi đi, không đái dắt. Đi tiểu xong thì thấy dễ chịu bàng quang và bụng (có cảm giác bàng quang không thể chứa được nước). Đứng thì dễ chịu (hơi tức thôi), ngồi và cố nhịn thì càng khó chịu.

Hôm vừa rồi (cách đây 2 ngày) con khám tiết niệu ở bệnh viện tư nhân Tâm Anh (cũng là bệnh viện tư nhân có tiếng về nam khoa, tiết liệu ở Hà Nội), bác sỹ nói rằng chưa phát hiện vấn đề gì (nước tiểu, máu, siêu âm), tuy nhiên với kinh nghiệm của bác sỹ thì có khả năng con bị viêm cổ bàng quang - tiết niệu (ở vị trí tiếp giáp nào đó trong dương vật mà con nghe không hiểu) nên bác sỹ kê thuốc Noroxin 400mg, Unasyn 375mg và vitamin E (2 thuốc đầu là kháng sinh chữa viêm tiết niệu).

2- Con cầu mong thầy giúp con chữa bệnh:

(1) Bệnh tăng tiểu cầu:

- Với bệnh tình như trên thì con có rơi vào trường hợp ung thư máu không? nếu không thì là bệnh gì? có nguy hiểm đến tính mạng không? có nguy cơ bệnh ung thư máu không?
- Con cần ăn uống, tập luyện như thế nào để đảm bảo quân bình Tinh - Khí - Thần giúp xua đuổi bệnh tật, lấy lại sức khỏe bình thường?

- Con phải kiêng kị gì không trong quá trình trị bệnh và tập luyện?

(2) Bệnh tức bàng quang:

- Có phải con bị thận hư không? hay là đường đi của nước tiểu của con có vấn đề (con suy ra khi theo dõi bài 'đường đi của nước tiểu trong cơ thể' của thầy trên youTube')? liệu con có bị viêm nhiễm gì không? liệu con có phải chụp CT cắt lớp để phát hiện nguyên nhân bệnh ở ổ bụng không?

Với bệnh tình của con thì phải dùng thuốc gì? chế độ tập luyện theo Tinh - Khí - Thần cần như thế nào? (vừa rồi có lương y đông y ở tỉnh Bình Dương bảo con bị thận âm hư và nên uống Lục vị địa hoàng hoàn trong vòng 3 tháng thì hết cả 2 bệnh trên có được không?)

Con rất mong sớm nhận được thư trả lời của thầy vì con và gia đình rất lo lắng khi nghe bác sỹ bảo bị 'ung thư máu' (nhất là trong hoàn cảnh mẹ con vừa mất chưa được 49 ngày và tháng mất phạm phải trùng tang tam xa - năm, ngày giờ thì đều tốt). Rất mong thầy bớt chút thời gian đọc kỹ bệnh tình của con và hướng dẫn cho con con đuờng sáng để uống thuốc, ăn uống và rèn luyện theo Khí công y đạo cho sớm khỏi bệnh.

Xin chân thành cảm ơn thầy và xin được chúc thầy những lời chúc tốt đẹp nhất!

Hà Nội, ngày 22/6/2012,

Con, Trần Kiên, Hà Nội, Việt Nam, email trankien73@gmail.com, mobile 0912.263.885
Con xin gửi kèm theo sơ lược về tình hình sức khỏe và bệnh tật của con để thầy có thông tin chi tiết, giúp bắt bệnh chuẩn xác hơn.

3- Tiểu sử bệnh:

(1) Tăng tiểu cầu:

Tại thời điểm kiểm tra sức khỏe định kỳ ở cơ quan (19.11.2011) thì con đã bị tăng tiểu cầu (484), bạch cầu cũng tăng chút (11.4), hồng cầu bình thường (5.8), lách không to. Nhưng bác sỹ lại nói không vấn đề gì nên con vô ý bỏ quên luôn.

(2) Tức bàng quang:

Trước đây (hồi trẻ) con đã bị hiện tượng này nhưng không thường xuyên, xuất hiện khoảng 1-2 tuần thì tự khỏi.

(3) Nghi ngờ nguyên nhân gây bệnh tức bàng quang:

- Cách đây 3 tháng để giải tỏa stresse con đã đi mát xa và nhân viên mát xa đã sử dụng dầu trẻ em johnson để thư giãn (dương vật), sau đó về nhà thì bị hiện tượng tức bàng quang và buồn đi tiểu.

(4) Rèn luyện của bản thân và bệnh tật quá khứ:

- Hiện con cao 1m64, nặng 58-59kg, huyết áp ngày 21.6 trước ăn (tay trái 116/68 mạch 88, tay phải 118/79 mạch 82), sau ăn (tay trái 117/77 mạch 81, tay phải 114/72 mạch 82).
- Trước đây con chưa bao giờ bị bệnh cao huyết áp, chưa uống thuốc cao huyết áp.
- Trước đây (cách đây 8 năm - con lập gia đình năm 2004) con rất chịu khó tập thể dục (buổi sáng vận động thân thể khoảng 10 phút, buổi chiều sau khi đi làm về chạy bộ trên công viên Lênin khoảng 25 phút (3,5km). Thời gian này con cảm thấy rất khỏe. Từ bé con ít khi phải uống thuốc và chưa phải đến bệnh viện (ngoại trừ bị cận thị 1,75 đi ốp và trĩ ngoại độ 1).

- Sau khi kết hôn và có con ngay trong năm 2004 thì con bắt đầu rất lười tập luyện, chỉ còn vận động thân thể lúc buổi sáng, lúc có lúc không, bỏ chạy bộ ở công viên. Ở cơ quan thì ngồi nhiều. về nhà thì ăn xong lại xem ti vi, đọc sách, truyện chưởng.
Trong thời gian chăm sóc con nhỏ từ năm 2004 - 2012 thì con lo lắng thái quá. Vì 2 con trai của con không được khỏe lắm (nhất là đứa đầu, trước 3 tuổi cháu hay bị sốt) nên con hay thức đêm để trông trẻ ngủ, và do đó ngủ ít (chỉ khoảng 5-6,5h/tối, tuy nhiên con ngủ trưa khá đều khoảng 15-30 phút ngày và không bị giảm cân nhiều, nhưng thường xuyên có cảm giác thiếu ngủ).

- Bắt đầu từ cuối năm 2011 mẹ con (sinh năm 1947) bị bệnh nặng, thường xuyên đau yếu và nằm viện nên con càng vất vả, chạy đi chạy lại nhiều, ăn uống vội vã, ăn ít hơn, ngủ ít hơn, mệt mỏi và căng thẳng hơn. Đỉnh điểm là tháng 4/2012 mẹ con bị phát hiện ung thư gan đường mật giai đoạn cuối (đã di căn khắp nơi) và chỉ còn cách điều trị đông y để kéo dài cuộc sống. Mẹ con mất ngày 19.5.2012 (lúc 20h40). Suốt thời gian này con bị căng thẳng hơn, sức khoẻ kém hơn, làm nhiều hơn, ngủ ít hơn.

Trả lời :

Đây không phải là bệnh ung thư máu mà do lười tập khí công, máu mất oxy để duy trì công thức máu Fe2O3, cơ thể mạch cao là nhiệt làm tăng tiểu cầu, cần phải tập khí công bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 100 lần làm tăng áp huyết, rồi tập tiếp bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần thông khí toàn thân và làm hạ áp huyết, xuất nhiệt, tăng hấp thụ và chuyển hóa thức ăn.

Luộc củ dền, cà rốt với ít nước rồi xay thành nước uống thay nước thường để bổ máu.

Áp dụng tập hai bài khí công trên với nước uống bổ máu trên trong 3 tháng, không cần dùng thuốc tây y để chữa bệnh, bệnh sẽ tự khỏi khi áp huyết đúng tiêu chuẩn tuổi, chứ không có bệnh ung thư máu gì cả, hãy ngưng ngay những xét nghiệm và những chẩn đoán sai lầm gây chết người oan uổng.

Khi uống nước nhiều bọng đái căng tức, do hai nguyên nhân như có cặn vôi ở bàng quang, hoặc do khi dương vật căng cứng, giữ tinh lại không cho xuất ra, nên tinh ứ lại ở tuyến tiền liệt, sẽ bị tức bí tiểu, tiểu ra lẫn tinh, cả hai nguyên nhân trên cần phải uống thuốc viên Kim Tiền Thảo (là loại cỏ đồng tiền) làm thông tiểu, chữa sạn thận, bàng quang, uống 5 viên tối trước khi đi ngủ để thuốc làm mền sạn giống như trứng non trong bụng con gà, sáng khi ngủ dậy, trước khi đi tiểu uống 5 viên. để thuốc làm vỡ vỏ sạn giống như vỡ vỏ trứng, cách 30 phút sau mới đi tiểu, sẽ thấy nước tiểu ra nhiều dễ dàng và nước tiểu đục như nước vo gạo, là sạn đã tan thành bột.

Bệnh sưng tuyến tiền liệt còn một nguyên nhân khác là khi mắc đi tiểu mà cố nhịn, làm sưng tuyến tiền liệt, lớn tuổi dễ bị bệnh ung thư tuyến tiền liệt, những thanh niên hay thủ dâm lớn tuổi cũng thường bị bệnh sưng tắc tuyến tiền liệt.

Như vậy Kim Tiền Thảo vừa chữa bí tiểu, sạn thận bàng quang, và chữa bệnh tuyến tiền liệt rất có hiệu qủa, mỗi tháng có thể dùng 2 ngày, uống 5 viên buổi tối trước, sáng hôm sau uống 5 viên, dùng trong 3 ngày thì ngưng, vài tháng dùng lại một lần để lấy cặn bẩn trong thận hệ phòng ngừa cho khỏi bị sạn.

Thân

doducngoc

THÂN BỆNH VÀ NGHIỆP BỆNH KHI VẤP NGÃ HÃY TỰ ĐỨNG DẬY MÀ ĐI.

Đã sinh ra làm người, dù muốn dù không ai cũng phải trải qua một qúa trình học hỏi để tiến hóa, tùy theo nhân tạo tác tốt xấu sẽ nhận được hậu qủa tốt xấu, nếu tính theo thang điểm, chúng ta sẽ tái sanh trở lại làm người, hay thăng tiến cao hơn cõi ngưởi, hay phải đọa làm ngạ qủy súc sanh hoặc sa địa ngục.

Có người nói tôi chả học gì cả, cứ sống tự nhiên theo ý muốn. Nhưng chúng ta quên một điều, khi mới sanh ra chúng ta chưa biết làm gì, chúng ta phải học ăn, học nói, khi lớn lên phải đi làm kiếm tiền để dành giật miếng ăn chật vật khổ sở hay sung sướng đều do sự khôn ngoan kinh nghiệm trường đời của chúng ta, đấy là học, có khi thất bại nhiều lần mới có sự thành công. Trong suốt cuộc đời đều là học để tiến hóa, theo luật nhân qủa của đạo Phật đều phải tác nghiệp tạo nhân, mới có qủa, nhân tốt có qủa tốt, nhân xấu có qủa xấu, tính theo nấc thang điểm tốt xất để khi bỏ xác thân vật chất này, những chủng tử nghiệp ân oán với người với vật là những dữ liệu, thảo chương tốt xấu đó theo linh hồn tái sanh trong môi trường thích hợp tương ứng với thang điểm tốt xấu ấy, nếu xấu thì tái sanh làm ngạ qủy súc sanh gọi là ngụp lặn mãi trong bể khổ luân hồi sanh tử do vô minh.

Vô minh không có nghĩa là không có học thức, những người có học thức ở trường đời vẫn có những vô minh vì không hiểu luật nhân qủa vẫn tác nghiệp xấu lãnh qủa xấu.

Riêng về ngành y, muốn trở thành thầy thuốc chữa bệnh thì tác nhân là đi học, phải hiểu quy luật giới-định-huệ, giới là đưa ra một chương trình học khắt khe, định là cố gắng giữ theo đúng theo chương trình mình quy định, huệ là kết qủa thành công, người ta sẽ gọi mình là thầy thuốc giỏi. Tuy nhiên khi hành nghề thì lại vô minh, vì chấp ngã cái ta tài giỏi, chỉ cho ra, mả không học được gì từ sự phản hồi của bệnh nhân. Những thầy thuốc giỏi dù là thủ khoa, nhưng kiêu ngạo, vớI mục đích học nghề bác sĩ để kiếm nhiều tiền, chỉ chữa bệnh cho rất ít bệnh nhân giầu, thì sau 10 năm lụt nghề sẽ không bằng một thầy thuốc ra trường đội sổ, nhưng với mục đích học làm thầy thuốc để cứu người, dấn thân vào chữa bệnh miễn phí để có nhiều bệnh nhân phản hồi cho mình kinh nghiệm, và xem bệnh nhân chính là thầy của mình giúp mình nâng cao tay nghề mà ở trường không dạy, thì những thầy này sẽ là thầy giỏi hơn thầy thủ khoa học nhiều mà hành ít.

Nhưng những thầy giỏi này vẫn còn vô minh, vì chưa hiểu bệnh của con người có hai loại là thân tứ đại bệnh là thân bệnh, lại còn bị nghiệp bệnh. Nghiệp bệnh thì thầy thuốc không hiểu đạo không thể chữa được.

Nghiệp bệnh là do bệnh nhân có những tác nhân xấu đời trước và đời này, nên họ phải chịu đựng trả qủa xấu để học mà tiến hóa. Những bệnh nghiệp thì không bao giờ thầy thuốc không hiểu đạo chữa khỏi, mà chữa lợn lành thành lợn què, định bệnh sai lầm, cắt mổ sai lầm, còn bệnh nhân dù có nhiều tiền chạy thầy chạy thuốc cũng vẫn tiền mất tật mang. Và những thầy thuốc cũng vì vô minh phải lãnh nghiệp thay cho họ do chấp ngã cái ta, không hiểu luật nhân qủa.

Thí dụ khi một bệnh nhân 30 tuổi bị bệnh nghiệp, sau 5 năm chữa không khỏi, chạy thầy chạy thuốc bệnh vẫn không khỏi lại bị biến chứng nặng thêm, họ phải hiểu đó là nghiệp bệnh, họ phải tự xét lại Thân bệnh có phải đo dư thừa khí huyết hay thiếu máu thiếu khí gây ra nhiều biến chứng bệnh, thì phải biết cách tự chữa vào gốc bệnh, còn nghiệp bệnh chữa hoài không khỏi phải tự xét nhân qủa trong đời này có khổ không, nếu đời này khổ mãi vì bệnh tật là do tác nghiệp xấu đời trước, mới phải nhận lãnh qủa xấu, và lại xét đời sau mình có khổ như thế này không, phải kiểm lại những hành vi tác nhân đời này đã làm tốt hay xấu, nếu kết qủa toàn là từ xấu đến xấu, thì phải biết ăn năn tu sửa, tránh làm điều ác, làm mọi điều lành để cải nghiệp, trường hợp này ví như cuộc đời bị vấp ngã, biết cách tự đứng dậy mà đi. Nếu biết tu sửa sớm thì năm 35 tuổi sẽ có thân thể khỏe mạnh không bệnh tật, tướng hảo quang minh, tâm tánh xấu ác biến mất, trở thành người tốt biết thương yêu giúp đỡ những người khác. Nếu không biết điều này, cứ đi chữa bệnh 10-20 năm sau cũng không khỏi, cuộc đời đau khổ lo lắng vì bệnh tật cho đến chết, thì tái sanh cũng đọa xuống tầng thấp hơn để học lại bài học tiến hóa này,và các thầy thuốc cũng mang cộng nghiệp chung với họ, thí dụ họ sẽ là những đứa con bệnh hoạn của mình ở đời sau. Đo đó mà chúng ta thường thấy ở đời này cha mẹ là bác sĩ dược sĩ có con bệnh ung thư đành bó tay nhìn con mình sắp chết mà cũng không biết cách chữa làm sao, đó cũng là một bài học tiến hóa của họ.

Tóm lại theo Khí Công Y Đạo, bệnh ung thư là một bệnh nghiệp, nếu hiểu đạo, thì chữa một lúc cả 2 loại nguyên nhân gây bệnh là thân bệnh, thiếu máu trong 10-20 năm các tế bào không đủ máu nuôi dưỡng trở thành tế bào ung thư, biết được điều này bằng cách đo áp huyết những bệnh nhân ung thư có áp huyết đều dưới 90mmHg, và khi gần chết áp huyết xuống 70mmHg, do đó không phải chữa ngọn, chỉ cần chích thuốc bổ máu, tăng máu tăng áp huyết lên 130mmHg tập khí công tăng thể lực tự nhiên sẽ khỏi.

Còn nghiệp bệnh, bệnh nhân ung thư do biệt nghiệp, nhưng liên quan đến sự đau khổ của cha mẹ là cộng nghiệp. Cả 3 phải biết ăn năn sám hối tránh làm điều ác, tăng trưởng làm điều lành biết bố thí giúp dỡ những người khác, dấn thân vào làm những việc thiện công ích, tu học đạo, chấp nhận nghiệp để cải nghiệp, không lo đến sống chết bản thân, lúc đó tâm bình thế giới bình, vạn pháp do tâm sanh vạn pháp do tâm diệt.

Như bệnh ung thư máu, không cần trông chờ ghép tủy, nếu cải nghiệp tốt, tiến hóa tốt sẽ có may mắn được người hiến tủy phù hợp với mình, trong lúc chờ đợi cứ dùng thuốc bổ máu duy trì ăn uống dinh dưỡng, làm việc thiện tạo phước mà thoát được khổ đau, còn nếu không có phước thì dù có một triệu người hiến tủy cũng không có tủy phù hợp, đổ thừa đó là số mạng vì khi bị vấp ngã không biết cách tự đứng dậy mà đi, bởi vô minh.

Bệnh nhân không hiểu nghiệp bệnh, khi vấp ngã, không tự đứng dậy mà đi, cứ nhờ đến thầy thuốc chữa cho mình, có nghiã khi ngã không tự đứng lên mà cứ nhờ người đến đỡ dậy, nên chưa học được bài học tiến hóa. Thầy thuốc hiểu đạo sẽ hướng dẫn họ chữa bằng Đạo Học để cải nghiệp thì thầy thuốc không bị lãnh nghiệp, ngược lại bệnh nhân chưa vấp ngã thầy thuốc đã đỡ dậy, làm sao bệnh nhân học được bài học tiến hóa, như vật thầy thuốc đã làm cản trở sự tu học tiến hóa của họ rồi, mình cũng trở thành thầy vô minh, cùng lãnh cộng nghiệp.

Do đó môn học Khí Công Y Đạo giai đoạn cuối của môn học này dẫn bệnh nhân và thầy thuốc đi vào Đạo, chỉ hướng dẫn cho bệnh nhân cách tự chữa, vấp ngã tự biết đứng lên mà đi.

Về Thân bệnh, KCYĐ đã cho bệnh nhân biết thân bệnh chỉ do Tinh-Khí-Thần làm ra bệnh dư thừa khí huyết, hay thiếu máu, thiếu khí, tự họ bị bệnh giống như vấp ngã, nay hiểu nguyên nhân tại sao bệnh có nhiều biến chứng do cao áp huyết, đường, cholesterol, hay thiếu máu, thiếu khí, được kiểm chứng và theo dõi bằng máy đo áp huyết, tự họ phải biết cách chữa để khỏi bệnh, để tự đứng dậy mà đi chứ không ỷ lại vào những thầy thuốc chữa sai lầm làm bệnh mình càng nặng, cứ hỏi bệnh chạy thầy chạy thuốc lung tung, không chịu học hỏi để biết nguyên nhân và tự chữa cho khỏi bệnh.

Kiến thức y khoa là tài sản chung của nhân loại, không phải của riêng ta, không phải tài của ta, nên không có gì là của ta để phải dấu diếm giữ lại làm của riêng, mà cần phổ biến rộng rãi cho nhân loại tự biết, tự chữa.

Ngày xưa một người bệnh chỉ cần ra nhà thuốc hỏi dược sĩ bán thuốc mua về uống là khỏi bệnh thông thường, ngày nay là tài sản kiến thức riêng của thầy thuốc, muốn mua thuốc phải qua tay bác sĩ cho toa mới mua được thuốc, uống không khỏi bác sĩ lại đổi thuốc khác, bệnh nhân cứ theo mà bệnh không khỏi dễ dàng như ngày xưa. Nếu theo Đạo học chúng ta đều vô minh tự làm ra thân bệnh và nghiệp bệnh, vấp ngã mà không tự đứng dậy được, nếu biết dùng Đạo Học tu sửa thân tâm sẽ sống an vui tự tại, thân không bệnh tật.

Những câu hỏi bệnh về Thân Bệnh và Nghiệp Bệnh tôi đã hướng dẫn phương pháp để tự chữa, tất cả hãy đứng dậy mà đi trên con đường học hỏi để cùng nhau tiến hóa vượt qua bể khổ sông mên đến bờ giải thoát.

Tôi xin gửi qúy thầy thuốc và bệnh nhân bài Sám Nguyện là kim chỉ nam tu học đạo để tu tâm sửa tánh, tăng trưởng điều lành trở thành người hữu ích cho nhân quần xã hội ở đời này và được thăng tiến ở cõi đòi sau :

Đệ tử hôm nay qùy trước điện
Chí tâm đảnh lễ Đấng Từ Tôn
Đã bao phen sanh tử dập dồn
Trôi lăn mãi trong vòng lục đạo

Thế Tôn đã đinh ninh dạy bảo
Mà con còn đắm đuối mê say
Mắt ưa xem huyễn cảnh hằng ngày
Tai thích tiếng mật đường dua nịnh

Mũi quen ngửi mùi thơm bất tịnh
Lưỡi dệt thêu lắm chuyện gay go
Thân ham dùng gấm vóc se sua
Ý mơ tưởng bao la vũ trụ

Bởi lục dục lòng tham không đủ
Lấp che mờ trí tuệ từ lâu
Hôm nay mong giác ngộ hồi đầu
Xin sám hối phơi bầy tỏ rõ

Nguyện tội ác từ nay lìa bỏ
Chuyển sáu căn ra khỏi lầm mê
Trước đài sen thành kính hướng về
Tịnh tâm ý quy y tam bảo

Phật giới cấm chuyên trì chu đáo
Dứt tận cùng cội rễ vô minh
Trí phàm phu tự lực khó thành
Cầu đại giác từ bi gia hộ

Dầu phải chịu muôn ngàn gian khổ
Con dốc lòng vì đạo hy sinh
Nương Từ Quang tìm đến Bảo Thành
Đặng tự giác, giác tha viên mãn.

Thân

doducngoc

Tạm biệt tất cả mọi người.

Thông báo: Thêm một địa điểm KCYĐ Nam California

Thân gửi thầy Ngọc.

Tôi rất vui nhận được tin thầy sẽ qua miền Nam Cali đây để hướng dẫn 4 buổi tự chữa mấy bệnh mà đa số người trung niên trở lên ở đây đang mắc phải .Tôi tuy lớn tuổi nhưng còn đủ sáng suốt và nghị lực phụ giúp thầy một tay trong những ngày đó nếu thầy cho phép.

Thời gian từ nay đến ngày thứ bẩy, chủ nhật ngày 22 và 23-9-12 sẽ tới rất mau xin thầy phổ biến cho các thành viên KCYĐ ở miền NAM CALI liên lạc với tôi qua email hay ĐT 714-775-7521 để thực hiện một địa điểm PHÁT TRIỂN KCYĐ như nội dung thư thầy trả lời tôi mấy tuần trước. Mong lắm thay.....

Địa chỉ nhà tôi 4117 W. MC FADDEN AVE ,SPC 706,SANTA ANA,CA 92704 ĐT nhà 714-775-7521 nếu số này bận xin nhắn trong ĐT 714-975-6646 tôi sẽ gọi lại dù ở ngoài khu vực 714.

Thân

Phạm ngọc Xuyến

Visit my blog: http://songkhoesongvui.blogspot.com

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Thông Báo: Thư hỏi bệnh

Kể từ nay những thư hỏi bệnh gửi vào địa chỉ doducngoc@gmail.com sẽ không được trả lời vì Thầy Ngọc thường luôn đi xa nhà.

Tất cả các thư hỏi bệnh phải gửi vào Forum sẽ được các thầy KCYĐ theo dõi và trả lời

http://khicongydaotoronto.com/forum/viewforum.php?f=32

Thân

admin

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

PHƯƠNG PHÁP NÀO GIÚP KHỎI BỆNH, KHI VÃNG SANH ĐƯỢC VỀ CÕI TỊNH ĐỘ

I : LUẬT NHÂN QỦA

Chúng ta tự hỏi : Tại sao chúng ta lại bị bệnh ? Câu trả lời do nguyên nhân theo luật nhân qủa. Nhưng luật nhân qủa để chữa bệnh có nghĩa đơn giản là nguyên nhân Tinh sai-Khí thiếu-Thần suy tạo ra hậu qủa tất yếu thành bệnh chúng ta có thể thấy được bằng mắt thường, bằng những máy móc xét nghiệm y khoa, như máy đo áp huyết, máy đo đường, máy chụp x-quang, máy scan, xét nghiệm thành phần máu, xét nghiệm tế bào, đàm, phân, nước tiểu. Đó là thân bệnh do ăn uống sai lầm thuộc Tinh, do lười tập thể dục thể thao thuộc Khí, do không có giờ nghỉ ngơi thư giãn tĩnh tâm thuộc Thần, và do cách chữa sai lầm của thầy thuốc đông tây y .

Nhưng khi tìm hiểu về Đạo Phật, chúng ta thường nghe đến những câu hỏi khó trả lời như :

1-Chúng ta từ đâu đến hành tinh này ?

2-Đến để làm gì ?

3-Chết sẽ đi về đâu ?

1-Con người từ đâu đến được giải thích theo Y-Đạo :

Câu trả lời cũng do luật nhân qủa. Nhân qủa này chúng ta không thể thấy được, đã gọi là nhân và qủa, thì nguyên nhân do tác nghiệp, sẽ có hậu qủa tốt hoặc xấu. Nếu hậu qủa xấu làm ra bệnh thì gọi là nghiệp bệnh.

Quan sát đời sống của một người, có lúc đối nhân tiếp vật xử thế tốt, tạo nhiều điều lành, đó là tác nghiệp tốt, có lúc hành động hại người gây thù oán là tác nghiệp xấu. Khi còn tại thế, mình gây nhân xấu hại người, bị người trả thù là hậu qủa lãnh chịu trong đời này, còn ngược lại những người oán thù với mình không có cơ hội trả thù được mình đời này, thì họ sẽ theo mình để đòi nợ ở kiếp sau. Như vậy khi con người chết đi không phải là hết không có đời sau, Đạo Phật gọi là do vô minh, oán thù theo nhau bởi tham, sân, si mà phải ngụp lặn trong sanh tử luân hồi.

(Xem bài đọc thêm : Quốc Sư Ngộ Đạt, và câu chuyện về huyệt Cao Hoang)

Do đó, đạo Phật chỉ ra rằng : Muốn biết nhân đời trước tốt hay xấu thì hãy xem đời sống của người đó ở đời này sung sướng hay khổ sở.

Còn muốn biết kiếp sau đời mình tốt hay xấu thì hãy xem nhân đời này tác nghiệp tốt hay xấu.

Do đó lý thuyết cấu tạo con người theo Đạo Phật cũng theo luật nhân qủa, gồm hai phần :

Phần cơ sở vật chất thuộc Tướng và phần linh hồn thuộc Tánh..

Phần cơ sở là xác thân được cấu tạo bởi tứ đại, là 4 chất tiêu biểu : chất đất, chất nước, chất gió, chất lửa, tạo ra hình hài con người.

Chất đất là cơ sở vật chất trong con người có thể nhìn thấy, sờ thấy ví dụ như xương cốt, da thịt, râu tóc, gân cơ, tạng phủ…

Chất nước là những chất lỏng trong cơ thể như nước, máu, các dịch chất ở các tuyến hạch..

Chất gió là hơi thở, các khổng ở trong các tế bào tạo ra sức đẩy, nhịp sống sinh học trong cơ thể, trong tạng phủ.

Chất lửa để điều hòa thân nhiệt, điều hòa sự sống sinh học cấu tạo bởi những hệ thần kinh chức năng hưng phấn ức chế.

Bốn chất này giống như một phần điã cứng của một máy computer chỉ là cái thân xác do nhiều tế bào chức năng của 4 chất hợp lại, nhưng chưa có sự sống nếu không có bộ óc là phần mềm để lập thảo chương điều hành chức năng hoạt động cho các tế bào, phần này vô hình không thấy được nhưng đã có thảo chương sẵn gọi là linh hồn đem theo những chủng tử nghiệp tốt xấu của những đời trước nằm sẵn ở những tế bào chức năng tạng phủ liên quan với chức năng điều khiển ở tế bào não. Não như một kho dự trữ thông tin của một đại thư viện, nơi chứa những dữ kiện nhiều đời, nơi sẽ chứa thêm những dữ kiện mới trong đời này do những tác nghiệp mới tạo thêm…

Những dữ kiện trong bộ não chứa những kinh nghiệm của mỗi người khác nhau gồm đủ mọi lãnh vực khoa học, văn hóa, nghệ thuật, kiến thức, tánh tình tham sân si, nhân nghĩa lễ trí tín, thông minh, ngu muội, ….đều do những tác nghiệp tốt xấu của đời trước còn lưu lại…nếu tính theo nấc thang điểm của những tác nhân tốt xấu ấy, nó sẽ thích nghi với một thân xác mới có khuôn mặt mới khi tái sinh, phù hợp với hoàn cảnh, môi trường sống để tái sinh vào 1 trong 6 cảnh giới như địa ngục, súc sanh, ngạ qủy, người, trời (thánh, tiên), Phật.

Về cõi người, khi tái sinh vào một gia đình nào để trả oán thù trở thì sẽ trở thành những đứa con hư hỏng làm khổ lẫn nhau, hay để trả nợ nhau làm con ngoan hiền hiếu thảo tài giỏi thông minh làm lợi cho nhau…thì đó là cộng nghiệp.

Ngoài ra còn có biệt nghiệp của chính mình tạo ra thân tướng tốt đẹp, khỏe mạnh thông minh, hay thân tướng xấu xa, bệnh hoạn ngu khờ đần độn, khuyết tật…những biệt nghiệp này đã có thảo chương sẵn do những tác nghiệp tốt xấu nằm trong những tế bào trong cơ thể.

Như vậy những tế bào trong cơ thể tạo thành con người hoàn hảo gồm thân tướng do tứ đại hợp lại, có tánh tình và sự sống do nghiệp qủa tốt xấu hợp lại, mà người đời gọi là số mạng.

Đến đây chúng ta đã tạm hiểu chúng ta từ đâu sinh ra là do hậu qủa của nghiệp tốt xấu dẫn dắt mà trở thành những đứa trẻ khôn ngoan, thông minh đẹp đẽ, hiền hậu, khỏe mạnh hay tàn tật, xấu xa, ác độc, bệnh hoạn, ngu đần, khuyết tật, là biệt nghiệp. Còn cộng nghiệp có đứa được sinh ra trong gia cảnh tốt, giầu có, hay xấu nghèo, và ở nơi thành thị sung sướng hoặc ở nơi núi rừng thôn dã.

2-Con người sinh ra để làm gì ?

Con người khi sinh ra, do định nghiệp sẵn bởi những tác nghiệp xấu tốt từ đời trước mới tạo ra biệt nghiệp và cộng nghiệp gặp gỡ lại nhau trong kiếp này vừa trả nghiệp vừa học hỏi để tiến hóa.

Đời sống từ đứa trẻ hoàn toàn vô tư, vô tội, nhưng nó sống trong một gia đình tốt nó học hỏi và huân tập được điều tốt, ngược lại nó sống trong hoàn cảnh xấu huân tập tính xấu, cạnh tranh với trường đời dành cuộc sống để tồn tại nó cũng huân tập nhiều kinh nghiệm tốt xấu để trường tồn, nên những tác nghiệp xấu tốt ấy lại được thêm vào kho lưu trữ trong bộ nhớ nó có thể làm cho tâm tánh sáng hơn lên hay tối tăm thêm có ảnh hưởng đến hệ thống miễn nhiễm làm cho tế bào bị bệnh hay làm cho tế bào bệnh được phục hồi lại mà không bị bệnh, nên nhà đạo gọi bộ não là sự sáng.

Khi bộ não huân tập nhiều điều hay, tốt, giúp bộ não hưng phấn sáng suốt như hiểu biết cách ăn uống đúng đủ điều độ, tập khí công để không bị bệnh tật…thì các tế bào hoạt động tốt giúp thân xác khỏe mạnh, loại bỏ được những tế bào bệnh. Ngược lại sự sáng mất dần do huân tập những điều xấu, như có thói quen ăn uống vô độ, luời vận động….khiến các tế bào chức năng hoạt động suy yếu, bệnh do mình tạo ra từ thân, khẩu, ý, tham sân si,...do vô minh, mất sự sáng, do không hiểu biết, mình đã huân tập nhân xấu tạo ra qủa xấu như ăn độc uống độc làm ra bệnh, lại không biết tự sửa chữa mà ỷ lại vào các thầy thuốc ... nếu đi chữa bệnh và uống thuốc điều trị mãi mà không khỏi tiền mất tật mang dẫn đến chán đời khổ đau triền miên với bệnh tật thành bệnh hoạn và có ý muốn tự tử.

Về phương diện y học chữa bệnh cho con người có hai loại : Loại chữa thân bệnh, loại chữa tánh bệnh.

Loại chữa thân bệnh chỉ chú trọng đến cơ sở vật chất, xương cốt, da thịt, cơ quan tạng phủ, máu nhiễm trùng, tế bào… bệnh đâu chữa đó chứ không khôi phục chức năng hoạt động của một tổng thể, mà chữa theo chuyên khoa từng bộ phận… trong đó có ngành tây y, đông y, châm cứu, dược thảo. Khuyết điểm là vừa chữa khỏi bệnh này lại biến chứng thành bệnh khác.

Loại chữa tánh bệnh không phải là mới, nó đã có từ lâu đời dưới nhiều tên gọi khác nhau, dạy cho con người có trí não sự hiểu biết sáng suốt, biết sống với thiên nhiên, biết vệ sinh sạch sẽ, biết cải tạo môi trường sống sạch, biết những thức ăn uống nào làm cơ thể không bệnh tật, thức ăn nào làm thành bệnh…những kinh nghiệm này đã được đúc kết từ mấy ngàn năm từ đông sang tây, biết cách sống đơn giản, ăn uống giản dị, ăn uống thích hợp với thiên nhiên trong lành, tinh thần vui vẻ thoải mái. Tất cả những kinh nghiệm ấy, ở đông phương đã đúc kết thành nhiều pho sách sắp xếp dưới hệ thống ngũ hành, từ ngũ hành tạng phủ, ngũ hành về ẩm thực, ngũ hành dược thảo, ngũ hành về khí hậu thời tiết, ngũ hành về tâm tính… để con người biết cách áp dụng phòng bệnh khi cơ thể chưa bị bệnh được quy về 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần.

Tinh : là những thức ăn thuốc uống bổ khí bổ huyết nuôi dưỡng tế bào, phục hồi tế bào bệnh, sách vở cũng để lại nhiều kinh nghiệm cho dân gian biết những món ăn thức uống nào gây ra bệnh tật để phòng tránh.

Khí : được dạy phổ biến rộng rãi cho mọi người bằng cách tập luyện tăng thể lực, dưỡng sinh, võ thuật, hít thở.. giúp cơ thể đủ khí đẩy máu lưu thông nuôi những tế bào.

Thần : là những biến đổi tâm lý như thế nào sẽ bị bệnh để biết cách phòng bệnh, nên cũng đã dạy cho con người biết nghỉ ngơi thư giãn, thiền định.

Ba yếu tố này hòa hợp thì thân không sợ bệnh tật. Nhưng ngày nay ít người biết đến 3 nguyên nhân gây bệnh này để chữa vào gốc bệnh, mà chỉ chạy theo chữa ngọn.

Tánh bệnh cũng chia làm hai loại, là loại huân tập kiến thức khác nhau trở thành sở tri kiến chấp cũng trở thành vô minh, ngoan cố có thành kiến với những cách chữa bệnh ra ngoài sự hiểu biết của mình, nên thà để bị chết oan chứ không chịu theo cách chữa nào khác. Tánh bệnh này do tâm trí huân tập khác nhau, nên có một vị thiền sư nói rằng : Chúng sinh có bệnh, mà không muốn chữa cho khỏi bệnh do sở tri kiến chấp.

Những bậc cao nhân thấy chúng sinh bị bệnh mà lười vận động khí huyết, lại bị sở tri kiến chấp, không chịu học tìm hiểu nguyên nhân mà chỉ muốn chữa khỏi bệnh, đó cũng thuộc vào loại tánh bệnh, đã làm mất sự sáng để duy trì sự sống cho các tế bào chức năng thần kinh hoạt động, nên ngày nay mới ra đời nhiều phương pháp chữa bệnh bằng khí công như khí công dưỡng sinh, khí công tâm pháp, nhân điện, khí công tiềm năng, các môn thiền áp dụng trong chữa bệnh là nhờ vào tha lực, gọi là năng lượng vũ trụ, khi biết cách tập đúng, thì các tế bào có tánh nghe, biết sẽ thay đổi chức năng hoạt động để phục hồi lại nhịp sinh học, nên họ được khỏi bệnh, tuy nhiên chưa có ai giải thích được cơ chế hoạt động.

Một loại tánh bệnh khác quan trọng hơn không ai thấy, đó là nghiệp bệnh đủ duyên sanh khởi, thì mọi kiến thức y khoa ở đời này bó tay, khi đã phát hiện ra để thấy biết được thì vô phương cứu chữa, vì nó thuộc tâm linh, muốn chữa được khỏi bệnh cần phải có thầy tâm linh hướng dẫn chữa bằng Đạo Học..

Những bệnh do nghiệp từ nhân xấu tạo ra qủa xấu đều có nguyên nhân, chứ không phải tự nhiên mà có bệnh. Thí dụ kiếp trước mình ỷ giầu có, quyền lực, đánh qùe chân một người, kiếp này mình bị một tai nạn gẫy chân. Kiếp trước lấy sự vui trong ăn uống làm đau khổ một sinh vật như cắt sọ khì ăn óc của nó làm nó đau đớn, kiếp này mình bị bệnh đau óc, bướu sọ não, bóp cổ chết một người, kiếp này mình bị bệnh bướu cổ...Những nhân xấu từ kiếp trước đã tạo ra kiếp này phải gánh chịu vì do vô minh mình không biết, nên cần phải biết đạo, học đạo để biết mà phòng ngừa nhân xấu, và biết ăn năn sám hối làm phước, tạo lành thì dù nghiệp trước có xấu nhưng không đủ duyên thì qủa xấu ngưng không có cơ hội hình thành. (xem chuyện Ngộ Đạt Quốc Sư)

Nhìn suốt cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, con người đã huân tập được nhiều kinh nghiệm xấu tốt để áp dụng trong cuộc sống, đến cuối đời mới biết được sự thành công hay thất bại, trở thành người tốt hay xấu, dù muốn dù không thì chúng ta cũng phải công nhận một điều là con người sinh ra để học hỏi và tiến hóa để linh hồn bỏ lại xác thân cũ, đem theo những tác nghiệp tốt xấu đã làm để linh hồn được thăng tiến lên cao hơn hay bị rớt xuống tầng thấp hơn, để người lại tái sinh làm người, hay tái sinh làm thánh hay tái sinh làm ngạ qủy súc sanh.

3-Con người chết đi về đâu ?

Theo Đạo Phật. luật nhân qủa của cuộc đời là sự luân hồi, linh hồn là những software bỏ lại xác thân là máy compter và phần đĩa cứng hư cũ, khi tái sinh lại có máy computer khác, lại gắn phần mền vào để điều hành cho máy chạy, những hậu qủa của nghiệp đã tạo tác giống như các data cũ vẫn không mất.

Mọi người trong chúng ta ai cũng muốn biết khi mình chết sẽ đi về đâu hay chết là hết. Nhưng theo Đạo Phật, vẫn theo luật Nhân-Qủa khi còn sống tạo tác nghiệp lành dữ nhiều ít khác nhau.

Theo kinh điển của Đạo Phật, chúng ta thường nghe nói đến lục đạo luân hồi, để được biết nhân qủa tốt xấu của một người sau khi chết hồn lìa khỏi thân xác được tái sanh, người ta kiểm chứng 8 vị trí nơi mà linh hồn xuất ra khỏi thể xác để biết họ được tái sanh về cõi nào :

1-Cõi thấp xấu nhất dành cho những kẻ có tội nặng phải đọa địa ngục, thì điểm nóng ấm cuối cùng của người chết ở dưới chân.

2-Cõi thứ hai là đầu thai vào làm súc vật thì linh hồn xuất ra điểm nóng cuối cùng từ háng đến gối.

3-Cõi thứ ba là đầu thai làm Ngạ Qủy như một loại qủy đói, điểm nóng cuối cùng ở bụng dưới.

4-Cõi thứ tư đầu thai làm thần, điểm nóng ở rốn.

5-Cõi thứ năm đầu thai trở lại làm người, điểm nóng ở ngực.

6-Cõi thứ sáu cao hơn cõi người một bậc là ở cõi tiên thấp còn nhiều dục vọng gọi là cõi Dục Giới, điểm nóng ở mặt.

7-Ở cõi tiên cao hơn nữa là cõi tiên Sắc Giới, điểm nóng ở trán

8-Còn cõi cao hơn dành cho những người mong cầu được về cõi Phật sau khi vãng sanh, đó là cõi Tịnh Độ, điểm nóng xuất ra ở đỉnh đầu.

II-PHƯƠNG PHÁP NÀO GIÚP KHỎI BỆNH, KHI VÃNG SANH ĐƯỢC VỀ CÕI TỊNH ĐỘ ?

A- Nguyên nhân bệnh :

Đó là phương pháp áp dụng đạo học.

Đạo học giúp cho trí óc ta sáng suốt, phát triển tế bào não, làm mạnh chức năng hoạt động của hệ miễn nhiễm xóa tan bệnh tật.

Trước hết chúng ta nên biết qua về Y Đạo chữa tướng bệnh, sau đến là Đạo Học chữa cả tướng bệnh và tánh bệnh, và Đạo Học giúp ta vãng sanh về cõi Tịnh độ.

Ở đây chúng tôi không đề cập đến y học thế gian thuộc đông tây y, mà đề cập đến tế bào do tứ đại hợp thành bao gồm những chủng tử nghiệp xấu tốt hình thành ra con người có cơ sở vật chất là chất đất như xương cốt da thịt, tạng phủ.., chất thủy là máu, nước, dịch chất, tuyến hạch... chất gió là khí từ hơi thở cung cấp oxy nuôi tế bào và sức đẩy giúp máu tuần hoàn đi nuôi tế bào, chất lửa là hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt, tạo ra nhiệt năng, điện năng, quang năng, nhưng 4 chất này có sự sống phải nhờ vào sức sống đem theo những phần mềm điều hành ký gửi vào bộ não, nhà đạo gọi là sự sáng, là chất thứ 5 gọi là quang năng. Khỏi bệnh hay không bị bệnh hay làm ra bệnh cho cơ sở vật chất cũng từ sự sáng. Sự sáng đó người đời gọi là trí óc, càng đơn giản bao nhiêu càng ít bệnh bấy nhiêu, càng rắc rối bao nhiêu càng có nhiều bệnh bấy nhiêu.

Thí dụ như những đứa trẻ ngu khờ thì không bao giờ có bệnh cảm cúm, bệnh lặt vặt, chẳng bao giờ biết đau vì bệnh, chẳng lo sợ sống chết, vì không có sở tri kiến không chấp ngã đúng sai phải quấy.

Y học thế gian biết nguyên tắc Y Đạo này thì chữa thân bệnh được thành công hơn nhiều :

Nếu xếp theo thứ tự các chất từ thấp đến cao, thì chất đất thấp hơn chất thủy, chất thủy thấp hơn chất khí, chất khí thấp hơn chất điện, chất đìện thấp hơn chất quang. Theo nguyên tắc những chất cao hơn có thể chữa được bệnh của những chất thấp.

Thí dụ chất đất bệnh như tổn thương thực thể tạng phủ, thì sau khi cắt mổ lắp ghép thay thế bộ phận mới vào cơ thể, nhưng muốn nó lành mau khỏi cần phải lấy chất cao hơn nó là chất thủy, như tiếp máu và nước biển nuôi nó.

Nếu chất thủy bệnh như máu độc, máu nhiễm trùng, có vi trùng, cần phải thay máu cho máu mới hay lọc máu, nhưng muốn duy trì máu tốt cần phải dùng chất cao hơn nó là chất khí oxy bảo quản công thức máu Fe2O3 bằng cách tăng cường oxy từ cách tập luyện hơi thở (tây y không có).

Nếu chất khí bệnh làm ra suyễn, nhiễm khí độc thì cần phải biết cách thở thải khí độc, biết cách nạp khí tăng cường oxy, và duy trì khí không mất phải dùng chất cao hơn nó là chất điện tác động chức năng thần kinh duy trì nhịp sinh học đều đặn.

Nếu chất điện bệnh như bệnh điên tâm thần, phải chỉnh lại chức năng hệ thần kinh và dùng chất quang cao hơn nó để duy trì chức năng thần kinh hoạt động, do đó những đứa trẻ điên khùng đến với đạo hiểu đạo, nhờ một thầy tu khai mở tâm sáng, giúp tâm bình hết điên hết quậy, nhà đạo gọi là vạn pháp do tâm sanh, vạn pháp do tâm diệt, hay tâm bình thế giới trong cơ thể cũng sẽ hoạt động trở lại bình thường.

Nhưng con người sanh ra, mỗi người có sự sáng tối khác nhau, gần như tê liệt, vì não hoạt động tối đa chỉ ở khoảng 7-8% tế bào não, hơn 90% tế bào não còn lại cất trong kho không được dùng tới.

Môn Khí Công Y Đạo xuất phát từ cõi tiên đạo, dùng Khí để chữa bệnh, thì chất khí do tập luyện đúng sẽ chữa được bệnh của 3 chất là chất khí và 2 chất thấp hơn nó là chất thủy, chất thổ.

Một điều kỳ diệu khác nữa, ở người bình thường thì khí đúng và đủ chỉ đủ giúp máu tuần hoàn mà không bị bệnh, còn người tập khí công dư khí rất nhiều nếu không biết phương pháp chuyển hóa thì cũng bị bệnh, thí dụ như các lực sĩ khí lực rất khỏe, nhưng cuối cùng cũng bị bệnh tim mạch.

Chữa bệnh theo Khí Công Y Đạo thì cơ thể chỉ còn âm-dương, chứ không còn ngũ hành, nên không chữa theo ngũ hành nữa, mà chỉ dựa vào bảng tiêu chuẩn khí huyết theo tuổi để biết khí huyết hư hay thực, nên có hai loại bệnh :

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theokinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổithiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg,mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg,mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg,mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Bệnh khí huyết hư thì chất thổ phải hư, có nghĩa các tế bào bị thoái hóa, hư hỏng, được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết so sánh vớ áp huyết tiêu chuẩn tuổi. Những bệnh này KCYĐ không cần chữa vào bệnh, mà chỉ cần uống thuốc bổ máu là bổ huyết và tập luyện khí, thì những tế bào hư sẽ hết hư.

Bệnh khí huyết thực thì chất thổ cũng thực làm tắc nghẽn, tế bào trương phình đột biến, chỉ cần nhịn ăn, tập khí công làm giảm áp lực khí, thì tế bào trở lại bình thường, không cần dùng thuốc chữa vào bệnh.

Những bệnh nan y là những bệnh từ ở sự sáng nơi trí não, theo quy luật, sự sáng ở trí não là chất cao nhất có thể chữa được tất cả các bệnh của những chất thấp hơn nó mà không cần thuốc chữa bệnh, nhưng sự sáng này phải biết cách phát triển sức sống tăng cường sự sống cho những tế bào. Ngược lại trí óc không còn sáng suốt thì tất cả các chất thấp hơn nó đều bị bệnh không bao giờ chữa khỏi mà thế gian gọi là bệnh nan y.

Sự sáng này không phải do kiến thức thế gian, kiến thức y khoa tân tiến, nên bác sĩ dược sĩ cũng vẫn chết vì những sở tri kiến chấp, và sân si của mình, làm ra bệnh nan y như Parkinson hay ung thư, đều do áp huyết qúa cao hay qúa thấp so với tiêu chuẩn tuổi của khí công, tất cả chỉ chữa vào ngọn bệnh là tiêu diệt tế bào chứ không biết chữa gốc phục hồi chức năng hoạt động của tế bào bằng khí huyết đúng đủ.

Nhưng bệnh nan y còn mang những tế bào gồm những chủng tử nghiệp xấu ác cài sẵn trong cơ thể mình đi theo với đời sống của mình cũng để học hỏi và tiến hóa nhờ vào sự sáng. Sự sáng có được do con người tu học thì trí óc sáng thêm ra, hiểu rõ luật nhân qủa, nên không phạm gìới gây ra tác nhân xấu, ngăn chặn duyên xấu không đến thì nhân xấu không có cơ hội phát triển thành quả xấy gây ra bệnh ung thư.

Theo đạo Phật, người tu học giữ 5 giới :

Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.

Mới nghe tưởng chừng đơn giản, nhưng áp dụng vào chữa bệnh nan y như ung thư rất công hiệu, nếu không biết áp dụng thì mau chết lại còn bị đọa vào cõi địa ngục, súc sanh.

Theo đạo Phật, tế bào là vi sinh vật có sự sống, như đá, hoa, cây cỏ, côn trùng nên nó có tánh nghe, hiều, biết, chứ không phải vật vô tri. Nếu ai có tâm giết hại nó nó sẽ oán thù và tìm cơ hội trả thù.

Thí dụ mình bắt một con thú, trói cột nó, hành hạ nó đau đớn trong tiếng vui cười của mình, rồi mình giết chết nó làm thịt. Nếu nó là mình thì điều gì sẽ xảy ra ? Mình sẽ oán hận, nhìn từng mặt, nhớ từng tên những người đã tham gia vào việc sát sanh này, cơ thể đầy oán hận tiết ra độc tố, lại còn nguyền rủa đúa nào ăn thịt tao sẽ bị trúng độc mà chết...., như vậy miếng thịt đó ăn vào người là chúng ta đã đem chủng tử nghiệp xấu ác vào người để có duyên tạo thành tế bào bệnh.

Ngược lại chúng ta đã biết tu học đạo, không sát sanh mà còn phóng sanh, nhưng vì vô minh, chúng ta vẫn phạm giới sát sanh, chúng ta muốn sống để khỏi bệnh ung thư, vô tình chúng ta đã dùng thuốc giết hại tế bào, mà chúng ta đã biết tế bào có tánh nghe, hiểu, biết, nếu chúng ta là nó, chúng ta cũng oán hận nguyền rủa rằng ông bà muốn dành sự sống cho mình mà lại giết chúng tôi thì chúng tôi để yên cho ông bà hay sao, nó sẽ làm cho mình đau đớn trong cơn bệnh và cũng phải chết theo nó.

Khi cận tử nghiệp, chúng ta đau đớn không còn tỉnh táo niệm Phật để vãng sanh vì các chủng tử nghiệp oán hận làm mình đau đớn. Trừ phi mình tốt số gặp được vị cao tăng đức hạnh khai thị cho mình và cho các tế bào chủng tử nghiệp ngộ đạo, nó sẽ không làm mình đau đớn, mặt dịu lại không còn nhăn nhó, tâm bình thản ra đi theo Phật vãng sanh thì nó cũng được vãng sanh theo.

Nếu mình hiểu đạo, tu đạo, thì khi áp dụng 5 giới trong lúc bệnh để tự chữa khỏi bệnh thì :

Giới thứ nhất không sát sanh, thì vừa phải ăn chay giúp tế bào được thanh sạch, ít sân hận, không tiếp tay phạm tôi sát sanh mà còn phóng sanh bên ngoài thân, phóng sanh bên trong thân là từ nay không dùng thuốc tiêu diệt tế bào, chỉ dùng thuốc bổ khí huyết, khuyên nhủ kết bạn với những tế bào cùng tu học niệm Phật giữ giới, thì cơ thể mình sẽ hết đau hết bệnh và tăng trưởng thêm lòng nhân từ bác ái vị tha.

Giới thứ hai không trộm cướp là không những bỏ được tánh tham lam, bỏn sẻn, mà còn biết bố thí tiền của, thí pháp, in kinh, làm công qủa, giúp đỡ người nghèo khổ khuyết tật...làm tăng trưởng điều lễ

Giới thứ ba không tà dâm hay dâm dục hay tốt hơn hết là chấm dứt diệt dục sẽ bớt được bệnh hao thần tổn khí làm hại tế bào, bớt ghen tuông, giữ được tánh nghĩa..

Giới thứ tư không nói dối, nói ác, gây khổ cho người khác mà nói những lời lành, hữu ích, làm tăng trưởng chữ tín.

Giới thứ năm không uống rượu say sưa mất lý tánh làm rối loạn thần kinh gây bệnh, làm tăng trưởng trí tuệ sáng suốt

Một người bệnh mà giữ được 5 giới thì hóa giải được những chủng tử nghiệp trở lại tánh thiện lành, bỏ được những huân tập xấu thành những chủng tử lành, mình và tế bào trở thành chủng tử Phật, nên chúng ta mới có thể hiểu được câu :

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng.

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.

Như vậy khi vãng sanh chắc chắn chúng ta tái sanh về cõi Nhân Thiên vì biết giữ đạo làm người.

Chúng ta cũng có thể bị tái sanh ở cõi khác nếu không tu sửa tánh Tham, Sân, Si để bị luân hồi trong 3 cõi thấp, như khi chết còn tánh tham thì đọa vào Ngạ Qủy, còn sân giận đọa vào cõi A Tu La (thần), còn si mê ngu muội đọa vào súc sanh.

B-Cách chữa bệnh bằng đạo học theo 3 yếu tố Tự Lực, Pháp Lực, Phật Lực :

Trên nguyên tắc thì bệnh nhân phải tự chữa, giữ gìn Thân Khẩu Ý để tránh 3 tội của Thân : không sát sanh, không chiếm đoạt trộm cướp, không dâm dục. 4 tội của Khẩu là nói dối, thêu dệt, thị phi, ác khẩu. 3 tội của Ý là tham, sân, si, tránh làm mọi đều xấu ác, làm mọi điều lành là luyện Pháp Lực.

Những điều này giúp thanh lọc bản thể, và tập khí công bằng cách luyện hơi thở tạo nhịp sinh học đều, dài hơi tăng oxy, nếu thiếu máu theo tiêu chuẩn áp huyết thì ăn uống những thức ăn bổ máu như củ dền rau dền cà rốt, rau lang, xay thành nước cốt uống hay luộc chấm với nước tương. Đó là tự lực.

Nhờ Phật Lực bằng cách niệm 4 chữ A Di Đà Phật theo ngũ giai từ cao xuống thấp, và niệm một hơi tiếng vừa đủ tai nghe theo tiếng niệm để được nhất tâm. 5 câu A Di Đà Phậ mới là một hơi như :

A Di Đà Phật A Di Đà Phật A Di Đà Phật A Di Đà Phật A Di Đà Phật, dùng xâu chuỗi niệm xong 5 câu là một hơi thì tay lần 1 hột, hết 1 xâu chuỗi là 108 hột thì niệm được 540 câu. Khi niệm nghĩ đến đỉnh đầu, hay đặt bàn tay vào nơi bệnh.

Mỗi ngày niệm 20- 30 chuỗi thì đạt được nhất tâm bất loạn, khí lực dư thừa và cơ thể đủ máu sẽ giúp đi nuôi khắp các tế bào, nhưng có sự kỳ diệu là ý ở đâu khí huyết sẽ đến đó, điểm đến giống như một lõi nam châm, bàn tay đặt vào giống như cuộn dây dẫn truyền, tập khí công là niệm Phật tạo ra một lực quay lõi nam châm phát sinh ra nhiệt, ra điện, ra từ trường và ra ánh sáng làm đột phá chuyển hóa tế bào có rung động cùng tần số với tiếng niệm tạo ra một cộng hưởng để vừa chữa được các chất thấp, lại bổ sung cho chất điện và chất quang mở được luân xa đỉnh đầu, phóng ra từ trường mang tín hiệu cùng tần số sóng rung động với Phật A Di Đà có sẵn trong không gian, vì Phật A Di Đà là ánh sáng vô lượng quang, vô lượng thọ, do tập luyện thuần thục sẽ được ánh sáng vô lượng thọ của muời phương chư Phật hộ trì theo.

Do đó hiện nay trên thế gian đã có nhiều bệnh ung thư được chữa khỏi do niệm A Di Đà Phật mang lại nhiều lợi ích như trí sáng tâm khai, sống an vui tự tại, trừ phiền não trái oan, nhẫn nại khoan dung. Chúng ta đã tự tạo đựợc cõi Tịnh Độ khi còn tại thế.

Còn muốn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, vẫn tiếp tục như trên, nhưng phải hành thập thiện, phát bồ đề tâm, và nhất hướng chuyên niệm cầu sanh Tịnh Độ sẽ được biết trước ngày giờ, thân không tật bệnh, xa lìa mọi đớn đau, an nhiên tự tại như vào thiền định theo Phật vãng sanh.

Như vậy là chúng ta chữa bệnh bằng Đạo Học lấy ánh sáng Vô Lượng Thọ Vô Lượng Quang từ cõi giới Tịnh Độ vừa tự chữa được khỏi bệnh vừa được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Tuy nhiên ở thế gian ngày nay lại sinh ra nhiều trường phái chữa bệnh cũng bằng ánh sáng từ nguồn gốc đạo ở nhiều cõi giới khác nhau, như Nhân Điện thầy Lương Minh Đáng từng nói xuất phát từ các vị thầy Ai Cập tái sanh, năng lượng sinh học, luồng điển quang từ cõi Thiên, cõi thánh, thần, A tu La, Ngạ Qủy...người đời gọi là tiềm năng con người, tất cả các cõi đều có thần thông, mình theo vị thầy nào ở cõi nào thì khi tái sanh được về cõi ấy. Chữa cách này mình không cần tự tập mà được thọ ký trên đỉnh đầu sẽ được di dân về cõi nước ấy, được chữa khỏi bệnh và được về những cõi ấy cũng sướng hơn cõi người nhưng vẫn phải lặn hụp trong sanh tử luân hồi, không trở thành Phật như cõi Tịnh Độ để trở lại ta bà hóa độ chúng sanh được.

Thân

doducngoc

---------------

Bài đọc thêm :

1-Ngộ Đạt Quốc Sư :

Thuở xưa về triều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh Ca ma la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm khích phong thái cưa ngài Tri Huyền mới dặn rằng:

-Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.

Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.

Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.

Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của mình. Nhà sư ấy nói:

-Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy khỏi ngay.

Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì bụm ghẻ kêu lên:

-Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?

-Tôi có đọc.

-Ông đã đọc rồi lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bực cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.

Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là “Chí Đức Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc này rõ ràng.

2-Huyệt Cao Hoang :

Ngày xưa vua Tấn Cảnh Công bị bệnh nặng, các thái y đều bó tay không chữa được, phải mời danh y nước Tần là Y Hoàn sang chữa. Lúc đi bộ còn một ngày đường mới đến nơi thì đêm vua Tấn nằm chiêm bao thấy bệnh mình hiện ra 2 đứa trẻ, chúng bàn tán nhau : Tao e rằng mình không tránh khỏi bị hại. Hai đứa bàn nhau đi trốn lên vùng Cao nơi Hoang thì ông ấy cũng không làm hại mình được. Quả nhiên hôm sau ông Y Hoàn xem bệnh cho vua xong rồi tâu : Bệnh của bệ hạ không còn chữa được, vì bệnh đã chạy vào Cao Hoang rồi, nên dù có dùng kim châm hay thuốc uống cũng không vào đến đó được. Vua nghe xong khen là thầy thuốc giỏi, hậu tạ để về Tần.

PHƯƠNG PHÁP NÀO GIÚP KHỎI BỆNH, KHI VÃNG SANH ĐƯỢC VỀ CÕI TỊNH ĐỘ

I : LUẬT NHÂN QỦA

Chúng ta tự hỏi : Tại sao chúng ta lại bị bệnh ? Câu trả lời do nguyên nhân theo luật nhân qủa. Nhưng luật nhân qủa để chữa bệnh có nghĩa đơn giản là nguyên nhân Tinh sai-Khí thiếu-Thần suy tạo ra hậu qủa tất yếu thành bệnh chúng ta có thể thấy được bằng mắt thường, bằng những máy móc xét nghiệm y khoa, như máy đo áp huyết, máy đo đường, máy chụp x-quang, máy scan, xét nghiệm thành phần máu, xét nghiệm tế bào, đàm, phân, nước tiểu. Đó là thân bệnh do ăn uống sai lầm thuộc Tinh, do lười tập thể dục thể thao thuộc Khí, do không có giờ nghỉ ngơi thư giãn tĩnh tâm thuộc Thần, và do cách chữa sai lầm của thầy thuốc đông tây y .

Nhưng khi tìm hiểu về Đạo Phật, chúng ta thường nghe đến những câu hỏi khó trả lời như :

1-Chúng ta từ đâu đến hành tinh này ?

2-Đến để làm gì ?

3-Chết sẽ đi về đâu ?

1-Con người từ đâu đến được giải thích theo Y-Đạo :

Câu trả lời cũng do luật nhân qủa. Nhân qủa này chúng ta không thể thấy được, đã gọi là nhân và qủa, thì nguyên nhân do tác nghiệp, sẽ có hậu qủa tốt hoặc xấu. Nếu hậu qủa xấu làm ra bệnh thì gọi là nghiệp bệnh.

Quan sát đời sống của một người, có lúc đối nhân tiếp vật xử thế tốt, tạo nhiều điều lành, đó là tác nghiệp tốt, có lúc hành động hại người gây thù oán là tác nghiệp xấu. Khi còn tại thế, mình gây nhân xấu hại người, bị người trả thù là hậu qủa lãnh chịu trong đời này, còn ngược lại những người oán thù với mình không có cơ hội trả thù được mình đời này, thì họ sẽ theo mình để đòi nợ ở kiếp sau. Như vậy khi con người chết đi không phải là hết không có đời sau, Đạo Phật gọi là do vô minh, oán thù theo nhau bởi tham, sân, si mà phải ngụp lặn trong sanh tử luân hồi.

(Xem bài đọc thêm : Quốc Sư Ngộ Đạt, và câu chuyện về huyệt Cao Hoang)

Do đó, đạo Phật chỉ ra rằng : Muốn biết nhân đời trước tốt hay xấu thì hãy xem đời sống của người đó ở đời này sung sướng hay khổ sở.

Còn muốn biết kiếp sau đời mình tốt hay xấu thì hãy xem nhân đời này tác nghiệp tốt hay xấu.

Do đó lý thuyết cấu tạo con người theo Đạo Phật cũng theo luật nhân qủa, gồm hai phần :

Phần cơ sở vật chất thuộc Tướng và phần linh hồn thuộc Tánh..

Phần cơ sở là xác thân được cấu tạo bởi tứ đại, là 4 chất tiêu biểu : chất đất, chất nước, chất gió, chất lửa, tạo ra hình hài con người.

Chất đất là cơ sở vật chất trong con người có thể nhìn thấy, sờ thấy ví dụ như xương cốt, da thịt, râu tóc, gân cơ, tạng phủ…

Chất nước là những chất lỏng trong cơ thể như nước, máu, các dịch chất ở các tuyến hạch..

Chất gió là hơi thở, các khổng ở trong các tế bào tạo ra sức đẩy, nhịp sống sinh học trong cơ thể, trong tạng phủ.

Chất lửa để điều hòa thân nhiệt, điều hòa sự sống sinh học cấu tạo bởi những hệ thần kinh chức năng hưng phấn ức chế.

Bốn chất này giống như một phần điã cứng của một máy computer chỉ là cái thân xác do nhiều tế bào chức năng của 4 chất hợp lại, nhưng chưa có sự sống nếu không có bộ óc là phần mềm để lập thảo chương điều hành chức năng hoạt động cho các tế bào, phần này vô hình không thấy được nhưng đã có thảo chương sẵn gọi là linh hồn đem theo những chủng tử nghiệp tốt xấu của những đời trước nằm sẵn ở những tế bào chức năng tạng phủ liên quan với chức năng điều khiển ở tế bào não. Não như một kho dự trữ thông tin của một đại thư viện, nơi chứa những dữ kiện nhiều đời, nơi sẽ chứa thêm những dữ kiện mới trong đời này do những tác nghiệp mới tạo thêm…

Những dữ kiện trong bộ não chứa những kinh nghiệm của mỗi người khác nhau gồm đủ mọi lãnh vực khoa học, văn hóa, nghệ thuật, kiến thức, tánh tình tham sân si, nhân nghĩa lễ trí tín, thông minh, ngu muội, ….đều do những tác nghiệp tốt xấu của đời trước còn lưu lại…nếu tính theo nấc thang điểm của những tác nhân tốt xấu ấy, nó sẽ thích nghi với một thân xác mới có khuôn mặt mới khi tái sinh, phù hợp với hoàn cảnh, môi trường sống để tái sinh vào 1 trong 6 cảnh giới như địa ngục, súc sanh, ngạ qủy, người, trời (thánh, tiên), Phật.

Về cõi người, khi tái sinh vào một gia đình nào để trả oán thù trở thì sẽ trở thành những đứa con hư hỏng làm khổ lẫn nhau, hay để trả nợ nhau làm con ngoan hiền hiếu thảo tài giỏi thông minh làm lợi cho nhau…thì đó là cộng nghiệp.

Ngoài ra còn có biệt nghiệp của chính mình tạo ra thân tướng tốt đẹp, khỏe mạnh thông minh, hay thân tướng xấu xa, bệnh hoạn ngu khờ đần độn, khuyết tật…những biệt nghiệp này đã có thảo chương sẵn do những tác nghiệp tốt xấu nằm trong những tế bào trong cơ thể.

Như vậy những tế bào trong cơ thể tạo thành con người hoàn hảo gồm thân tướng do tứ đại hợp lại, có tánh tình và sự sống do nghiệp qủa tốt xấu hợp lại, mà người đời gọi là số mạng.

Đến đây chúng ta đã tạm hiểu chúng ta từ đâu sinh ra là do hậu qủa của nghiệp tốt xấu dẫn dắt mà trở thành những đứa trẻ khôn ngoan, thông minh đẹp đẽ, hiền hậu, khỏe mạnh hay tàn tật, xấu xa, ác độc, bệnh hoạn, ngu đần, khuyết tật, là biệt nghiệp. Còn cộng nghiệp có đứa được sinh ra trong gia cảnh tốt, giầu có, hay xấu nghèo, và ở nơi thành thị sung sướng hoặc ở nơi núi rừng thôn dã.

2-Con người sinh ra để làm gì ?

Con người khi sinh ra, do định nghiệp sẵn bởi những tác nghiệp xấu tốt từ đời trước mới tạo ra biệt nghiệp và cộng nghiệp gặp gỡ lại nhau trong kiếp này vừa trả nghiệp vừa học hỏi để tiến hóa.

Đời sống từ đứa trẻ hoàn toàn vô tư, vô tội, nhưng nó sống trong một gia đình tốt nó học hỏi và huân tập được điều tốt, ngược lại nó sống trong hoàn cảnh xấu huân tập tính xấu, cạnh tranh với trường đời dành cuộc sống để tồn tại nó cũng huân tập nhiều kinh nghiệm tốt xấu để trường tồn, nên những tác nghiệp xấu tốt ấy lại được thêm vào kho lưu trữ trong bộ nhớ nó có thể làm cho tâm tánh sáng hơn lên hay tối tăm thêm có ảnh hưởng đến hệ thống miễn nhiễm làm cho tế bào bị bệnh hay làm cho tế bào bệnh được phục hồi lại mà không bị bệnh, nên nhà đạo gọi bộ não là sự sáng.

Khi bộ não huân tập nhiều điều hay, tốt, giúp bộ não hưng phấn sáng suốt như hiểu biết cách ăn uống đúng đủ điều độ, tập khí công để không bị bệnh tật…thì các tế bào hoạt động tốt giúp thân xác khỏe mạnh, loại bỏ được những tế bào bệnh. Ngược lại sự sáng mất dần do huân tập những điều xấu, như có thói quen ăn uống vô độ, luời vận động….khiến các tế bào chức năng hoạt động suy yếu, bệnh do mình tạo ra từ thân, khẩu, ý, tham sân si,...do vô minh, mất sự sáng, do không hiểu biết, mình đã huân tập nhân xấu tạo ra qủa xấu như ăn độc uống độc làm ra bệnh, lại không biết tự sửa chữa mà ỷ lại vào các thầy thuốc ... nếu đi chữa bệnh và uống thuốc điều trị mãi mà không khỏi tiền mất tật mang dẫn đến chán đời khổ đau triền miên với bệnh tật thành bệnh hoạn và có ý muốn tự tử.

Về phương diện y học chữa bệnh cho con người có hai loại : Loại chữa thân bệnh, loại chữa tánh bệnh.

Loại chữa thân bệnh chỉ chú trọng đến cơ sở vật chất, xương cốt, da thịt, cơ quan tạng phủ, máu nhiễm trùng, tế bào… bệnh đâu chữa đó chứ không khôi phục chức năng hoạt động của một tổng thể, mà chữa theo chuyên khoa từng bộ phận… trong đó có ngành tây y, đông y, châm cứu, dược thảo. Khuyết điểm là vừa chữa khỏi bệnh này lại biến chứng thành bệnh khác.

Loại chữa tánh bệnh không phải là mới, nó đã có từ lâu đời dưới nhiều tên gọi khác nhau, dạy cho con người có trí não sự hiểu biết sáng suốt, biết sống với thiên nhiên, biết vệ sinh sạch sẽ, biết cải tạo môi trường sống sạch, biết những thức ăn uống nào làm cơ thể không bệnh tật, thức ăn nào làm thành bệnh…những kinh nghiệm này đã được đúc kết từ mấy ngàn năm từ đông sang tây, biết cách sống đơn giản, ăn uống giản dị, ăn uống thích hợp với thiên nhiên trong lành, tinh thần vui vẻ thoải mái. Tất cả những kinh nghiệm ấy, ở đông phương đã đúc kết thành nhiều pho sách sắp xếp dưới hệ thống ngũ hành, từ ngũ hành tạng phủ, ngũ hành về ẩm thực, ngũ hành dược thảo, ngũ hành về khí hậu thời tiết, ngũ hành về tâm tính… để con người biết cách áp dụng phòng bệnh khi cơ thể chưa bị bệnh được quy về 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần.

Tinh : là những thức ăn thuốc uống bổ khí bổ huyết nuôi dưỡng tế bào, phục hồi tế bào bệnh, sách vở cũng để lại nhiều kinh nghiệm cho dân gian biết những món ăn thức uống nào gây ra bệnh tật để phòng tránh.

Khí : được dạy phổ biến rộng rãi cho mọi người bằng cách tập luyện tăng thể lực, dưỡng sinh, võ thuật, hít thở.. giúp cơ thể đủ khí đẩy máu lưu thông nuôi những tế bào.

Thần : là những biến đổi tâm lý như thế nào sẽ bị bệnh để biết cách phòng bệnh, nên cũng đã dạy cho con người biết nghỉ ngơi thư giãn, thiền định.

Ba yếu tố này hòa hợp thì thân không sợ bệnh tật. Nhưng ngày nay ít người biết đến 3 nguyên nhân gây bệnh này để chữa vào gốc bệnh, mà chỉ chạy theo chữa ngọn.

Tánh bệnh cũng chia làm hai loại, là loại huân tập kiến thức khác nhau trở thành sở tri kiến chấp cũng trở thành vô minh, ngoan cố có thành kiến với những cách chữa bệnh ra ngoài sự hiểu biết của mình, nên thà để bị chết oan chứ không chịu theo cách chữa nào khác. Tánh bệnh này do tâm trí huân tập khác nhau, nên có một vị thiền sư nói rằng : Chúng sinh có bệnh, mà không muốn chữa cho khỏi bệnh do sở tri kiến chấp.

Những bậc cao nhân thấy chúng sinh bị bệnh mà lười vận động khí huyết, lại bị sở tri kiến chấp, không chịu học tìm hiểu nguyên nhân mà chỉ muốn chữa khỏi bệnh, đó cũng thuộc vào loại tánh bệnh, đã làm mất sự sáng để duy trì sự sống cho các tế bào chức năng thần kinh hoạt động, nên ngày nay mới ra đời nhiều phương pháp chữa bệnh bằng khí công như khí công dưỡng sinh, khí công tâm pháp, nhân điện, khí công tiềm năng, các môn thiền áp dụng trong chữa bệnh là nhờ vào tha lực, gọi là năng lượng vũ trụ, khi biết cách tập đúng, thì các tế bào có tánh nghe, biết sẽ thay đổi chức năng hoạt động để phục hồi lại nhịp sinh học, nên họ được khỏi bệnh, tuy nhiên chưa có ai giải thích được cơ chế hoạt động.

Một loại tánh bệnh khác quan trọng hơn không ai thấy, đó là nghiệp bệnh đủ duyên sanh khởi, thì mọi kiến thức y khoa ở đời này bó tay, khi đã phát hiện ra để thấy biết được thì vô phương cứu chữa, vì nó thuộc tâm linh, muốn chữa được khỏi bệnh cần phải có thầy tâm linh hướng dẫn chữa bằng Đạo Học..

Những bệnh do nghiệp từ nhân xấu tạo ra qủa xấu đều có nguyên nhân, chứ không phải tự nhiên mà có bệnh. Thí dụ kiếp trước mình ỷ giầu có, quyền lực, đánh qùe chân một người, kiếp này mình bị một tai nạn gẫy chân. Kiếp trước lấy sự vui trong ăn uống làm đau khổ một sinh vật như cắt sọ khì ăn óc của nó làm nó đau đớn, kiếp này mình bị bệnh đau óc, bướu sọ não, bóp cổ chết một người, kiếp này mình bị bệnh bướu cổ...Những nhân xấu từ kiếp trước đã tạo ra kiếp này phải gánh chịu vì do vô minh mình không biết, nên cần phải biết đạo, học đạo để biết mà phòng ngừa nhân xấu, và biết ăn năn sám hối làm phước, tạo lành thì dù nghiệp trước có xấu nhưng không đủ duyên thì qủa xấu ngưng không có cơ hội hình thành. (xem chuyện Ngộ Đạt Quốc Sư)

Nhìn suốt cuộc đời từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, con người đã huân tập được nhiều kinh nghiệm xấu tốt để áp dụng trong cuộc sống, đến cuối đời mới biết được sự thành công hay thất bại, trở thành người tốt hay xấu, dù muốn dù không thì chúng ta cũng phải công nhận một điều là con người sinh ra để học hỏi và tiến hóa để linh hồn bỏ lại xác thân cũ, đem theo những tác nghiệp tốt xấu đã làm để linh hồn được thăng tiến lên cao hơn hay bị rớt xuống tầng thấp hơn, để người lại tái sinh làm người, hay tái sinh làm thánh hay tái sinh làm ngạ qủy súc sanh.

3-Con người chết đi về đâu ?

Theo Đạo Phật. luật nhân qủa của cuộc đời là sự luân hồi, linh hồn là những software bỏ lại xác thân là máy compter và phần đĩa cứng hư cũ, khi tái sinh lại có máy computer khác, lại gắn phần mền vào để điều hành cho máy chạy, những hậu qủa của nghiệp đã tạo tác giống như các data cũ vẫn không mất.

Mọi người trong chúng ta ai cũng muốn biết khi mình chết sẽ đi về đâu hay chết là hết. Nhưng theo Đạo Phật, vẫn theo luật Nhân-Qủa khi còn sống tạo tác nghiệp lành dữ nhiều ít khác nhau.

Theo kinh điển của Đạo Phật, chúng ta thường nghe nói đến lục đạo luân hồi, để được biết nhân qủa tốt xấu của một người sau khi chết hồn lìa khỏi thân xác được tái sanh, người ta kiểm chứng 8 vị trí nơi mà linh hồn xuất ra khỏi thể xác để biết họ được tái sanh về cõi nào :

1-Cõi thấp xấu nhất dành cho những kẻ có tội nặng phải đọa địa ngục, thì điểm nóng ấm cuối cùng của người chết ở dưới chân.

2-Cõi thứ hai là đầu thai vào làm súc vật thì linh hồn xuất ra điểm nóng cuối cùng từ háng đến gối.

3-Cõi thứ ba là đầu thai làm Ngạ Qủy như một loại qủy đói, điểm nóng cuối cùng ở bụng dưới.

4-Cõi thứ tư đầu thai làm thần, điểm nóng ở rốn.

5-Cõi thứ năm đầu thai trở lại làm người, điểm nóng ở ngực.

6-Cõi thứ sáu cao hơn cõi người một bậc là ở cõi tiên thấp còn nhiều dục vọng gọi là cõi Dục Giới, điểm nóng ở mặt.

7-Ở cõi tiên cao hơn nữa là cõi tiên Sắc Giới, điểm nóng ở trán

8-Còn cõi cao hơn dành cho những người mong cầu được về cõi Phật sau khi vãng sanh, đó là cõi Tịnh Độ, điểm nóng xuất ra ở đỉnh đầu.

II-PHƯƠNG PHÁP NÀO GIÚP KHỎI BỆNH, KHI VÃNG SANH ĐƯỢC VỀ CÕI TỊNH ĐỘ ?

A- Nguyên nhân bệnh :

Đó là phương pháp áp dụng đạo học.

Đạo học giúp cho trí óc ta sáng suốt, phát triển tế bào não, làm mạnh chức năng hoạt động của hệ miễn nhiễm xóa tan bệnh tật.

Trước hết chúng ta nên biết qua về Y Đạo chữa tướng bệnh, sau đến là Đạo Học chữa cả tướng bệnh và tánh bệnh, và Đạo Học giúp ta vãng sanh về cõi Tịnh độ.

Ở đây chúng tôi không đề cập đến y học thế gian thuộc đông tây y, mà đề cập đến tế bào do tứ đại hợp thành bao gồm những chủng tử nghiệp xấu tốt hình thành ra con người có cơ sở vật chất là chất đất như xương cốt da thịt, tạng phủ.., chất thủy là máu, nước, dịch chất, tuyến hạch... chất gió là khí từ hơi thở cung cấp oxy nuôi tế bào và sức đẩy giúp máu tuần hoàn đi nuôi tế bào, chất lửa là hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt, tạo ra nhiệt năng, điện năng, quang năng, nhưng 4 chất này có sự sống phải nhờ vào sức sống đem theo những phần mềm điều hành ký gửi vào bộ não, nhà đạo gọi là sự sáng, là chất thứ 5 gọi là quang năng. Khỏi bệnh hay không bị bệnh hay làm ra bệnh cho cơ sở vật chất cũng từ sự sáng. Sự sáng đó người đời gọi là trí óc, càng đơn giản bao nhiêu càng ít bệnh bấy nhiêu, càng rắc rối bao nhiêu càng có nhiều bệnh bấy nhiêu.

Thí dụ như những đứa trẻ ngu khờ thì không bao giờ có bệnh cảm cúm, bệnh lặt vặt, chẳng bao giờ biết đau vì bệnh, chẳng lo sợ sống chết, vì không có sở tri kiến không chấp ngã đúng sai phải quấy.

Y học thế gian biết nguyên tắc Y Đạo này thì chữa thân bệnh được thành công hơn nhiều :

Nếu xếp theo thứ tự các chất từ thấp đến cao, thì chất đất thấp hơn chất thủy, chất thủy thấp hơn chất khí, chất khí thấp hơn chất điện, chất đìện thấp hơn chất quang. Theo nguyên tắc những chất cao hơn có thể chữa được bệnh của những chất thấp.

Thí dụ chất đất bệnh như tổn thương thực thể tạng phủ, thì sau khi cắt mổ lắp ghép thay thế bộ phận mới vào cơ thể, nhưng muốn nó lành mau khỏi cần phải lấy chất cao hơn nó là chất thủy, như tiếp máu và nước biển nuôi nó.

Nếu chất thủy bệnh như máu độc, máu nhiễm trùng, có vi trùng, cần phải thay máu cho máu mới hay lọc máu, nhưng muốn duy trì máu tốt cần phải dùng chất cao hơn nó là chất khí oxy bảo quản công thức máu Fe2O3 bằng cách tăng cường oxy từ cách tập luyện hơi thở (tây y không có).

Nếu chất khí bệnh làm ra suyễn, nhiễm khí độc thì cần phải biết cách thở thải khí độc, biết cách nạp khí tăng cường oxy, và duy trì khí không mất phải dùng chất cao hơn nó là chất điện tác động chức năng thần kinh duy trì nhịp sinh học đều đặn.

Nếu chất điện bệnh như bệnh điên tâm thần, phải chỉnh lại chức năng hệ thần kinh và dùng chất quang cao hơn nó để duy trì chức năng thần kinh hoạt động, do đó những đứa trẻ điên khùng đến với đạo hiểu đạo, nhờ một thầy tu khai mở tâm sáng, giúp tâm bình hết điên hết quậy, nhà đạo gọi là vạn pháp do tâm sanh, vạn pháp do tâm diệt, hay tâm bình thế giới trong cơ thể cũng sẽ hoạt động trở lại bình thường.

Nhưng con người sanh ra, mỗi người có sự sáng tối khác nhau, gần như tê liệt, vì não hoạt động tối đa chỉ ở khoảng 7-8% tế bào não, hơn 90% tế bào não còn lại cất trong kho không được dùng tới.

Môn Khí Công Y Đạo xuất phát từ cõi tiên đạo, dùng Khí để chữa bệnh, thì chất khí do tập luyện đúng sẽ chữa được bệnh của 3 chất là chất khí và 2 chất thấp hơn nó là chất thủy, chất thổ.

Một điều kỳ diệu khác nữa, ở người bình thường thì khí đúng và đủ chỉ đủ giúp máu tuần hoàn mà không bị bệnh, còn người tập khí công dư khí rất nhiều nếu không biết phương pháp chuyển hóa thì cũng bị bệnh, thí dụ như các lực sĩ khí lực rất khỏe, nhưng cuối cùng cũng bị bệnh tim mạch.

Chữa bệnh theo Khí Công Y Đạo thì cơ thể chỉ còn âm-dương, chứ không còn ngũ hành, nên không chữa theo ngũ hành nữa, mà chỉ dựa vào bảng tiêu chuẩn khí huyết theo tuổi để biết khí huyết hư hay thực, nên có hai loại bệnh :

Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theokinh nghiệm của khí công y đạo :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổithiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg,mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg,mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg,mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Bệnh khí huyết hư thì chất thổ phải hư, có nghĩa các tế bào bị thoái hóa, hư hỏng, được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết so sánh vớ áp huyết tiêu chuẩn tuổi. Những bệnh này KCYĐ không cần chữa vào bệnh, mà chỉ cần uống thuốc bổ máu là bổ huyết và tập luyện khí, thì những tế bào hư sẽ hết hư.

Bệnh khí huyết thực thì chất thổ cũng thực làm tắc nghẽn, tế bào trương phình đột biến, chỉ cần nhịn ăn, tập khí công làm giảm áp lực khí, thì tế bào trở lại bình thường, không cần dùng thuốc chữa vào bệnh.

Những bệnh nan y là những bệnh từ ở sự sáng nơi trí não, theo quy luật, sự sáng ở trí não là chất cao nhất có thể chữa được tất cả các bệnh của những chất thấp hơn nó mà không cần thuốc chữa bệnh, nhưng sự sáng này phải biết cách phát triển sức sống tăng cường sự sống cho những tế bào. Ngược lại trí óc không còn sáng suốt thì tất cả các chất thấp hơn nó đều bị bệnh không bao giờ chữa khỏi mà thế gian gọi là bệnh nan y.

Sự sáng này không phải do kiến thức thế gian, kiến thức y khoa tân tiến, nên bác sĩ dược sĩ cũng vẫn chết vì những sở tri kiến chấp, và sân si của mình, làm ra bệnh nan y như Parkinson hay ung thư, đều do áp huyết qúa cao hay qúa thấp so với tiêu chuẩn tuổi của khí công, tất cả chỉ chữa vào ngọn bệnh là tiêu diệt tế bào chứ không biết chữa gốc phục hồi chức năng hoạt động của tế bào bằng khí huyết đúng đủ.

Nhưng bệnh nan y còn mang những tế bào gồm những chủng tử nghiệp xấu ác cài sẵn trong cơ thể mình đi theo với đời sống của mình cũng để học hỏi và tiến hóa nhờ vào sự sáng. Sự sáng có được do con người tu học thì trí óc sáng thêm ra, hiểu rõ luật nhân qủa, nên không phạm gìới gây ra tác nhân xấu, ngăn chặn duyên xấu không đến thì nhân xấu không có cơ hội phát triển thành quả xấy gây ra bệnh ung thư.

Theo đạo Phật, người tu học giữ 5 giới :

Không sát sinh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.

Mới nghe tưởng chừng đơn giản, nhưng áp dụng vào chữa bệnh nan y như ung thư rất công hiệu, nếu không biết áp dụng thì mau chết lại còn bị đọa vào cõi địa ngục, súc sanh.

Theo đạo Phật, tế bào là vi sinh vật có sự sống, như đá, hoa, cây cỏ, côn trùng nên nó có tánh nghe, hiều, biết, chứ không phải vật vô tri. Nếu ai có tâm giết hại nó nó sẽ oán thù và tìm cơ hội trả thù.

Thí dụ mình bắt một con thú, trói cột nó, hành hạ nó đau đớn trong tiếng vui cười của mình, rồi mình giết chết nó làm thịt. Nếu nó là mình thì điều gì sẽ xảy ra ? Mình sẽ oán hận, nhìn từng mặt, nhớ từng tên những người đã tham gia vào việc sát sanh này, cơ thể đầy oán hận tiết ra độc tố, lại còn nguyền rủa đúa nào ăn thịt tao sẽ bị trúng độc mà chết...., như vậy miếng thịt đó ăn vào người là chúng ta đã đem chủng tử nghiệp xấu ác vào người để có duyên tạo thành tế bào bệnh.

Ngược lại chúng ta đã biết tu học đạo, không sát sanh mà còn phóng sanh, nhưng vì vô minh, chúng ta vẫn phạm giới sát sanh, chúng ta muốn sống để khỏi bệnh ung thư, vô tình chúng ta đã dùng thuốc giết hại tế bào, mà chúng ta đã biết tế bào có tánh nghe, hiểu, biết, nếu chúng ta là nó, chúng ta cũng oán hận nguyền rủa rằng ông bà muốn dành sự sống cho mình mà lại giết chúng tôi thì chúng tôi để yên cho ông bà hay sao, nó sẽ làm cho mình đau đớn trong cơn bệnh và cũng phải chết theo nó.

Khi cận tử nghiệp, chúng ta đau đớn không còn tỉnh táo niệm Phật để vãng sanh vì các chủng tử nghiệp oán hận làm mình đau đớn. Trừ phi mình tốt số gặp được vị cao tăng đức hạnh khai thị cho mình và cho các tế bào chủng tử nghiệp ngộ đạo, nó sẽ không làm mình đau đớn, mặt dịu lại không còn nhăn nhó, tâm bình thản ra đi theo Phật vãng sanh thì nó cũng được vãng sanh theo.

Nếu mình hiểu đạo, tu đạo, thì khi áp dụng 5 giới trong lúc bệnh để tự chữa khỏi bệnh thì :

Giới thứ nhất không sát sanh, thì vừa phải ăn chay giúp tế bào được thanh sạch, ít sân hận, không tiếp tay phạm tôi sát sanh mà còn phóng sanh bên ngoài thân, phóng sanh bên trong thân là từ nay không dùng thuốc tiêu diệt tế bào, chỉ dùng thuốc bổ khí huyết, khuyên nhủ kết bạn với những tế bào cùng tu học niệm Phật giữ giới, thì cơ thể mình sẽ hết đau hết bệnh và tăng trưởng thêm lòng nhân từ bác ái vị tha.

Giới thứ hai không trộm cướp là không những bỏ được tánh tham lam, bỏn sẻn, mà còn biết bố thí tiền của, thí pháp, in kinh, làm công qủa, giúp đỡ người nghèo khổ khuyết tật...làm tăng trưởng điều lễ

Giới thứ ba không tà dâm hay dâm dục hay tốt hơn hết là chấm dứt diệt dục sẽ bớt được bệnh hao thần tổn khí làm hại tế bào, bớt ghen tuông, giữ được tánh nghĩa..

Giới thứ tư không nói dối, nói ác, gây khổ cho người khác mà nói những lời lành, hữu ích, làm tăng trưởng chữ tín.

Giới thứ năm không uống rượu say sưa mất lý tánh làm rối loạn thần kinh gây bệnh, làm tăng trưởng trí tuệ sáng suốt

Một người bệnh mà giữ được 5 giới thì hóa giải được những chủng tử nghiệp trở lại tánh thiện lành, bỏ được những huân tập xấu thành những chủng tử lành, mình và tế bào trở thành chủng tử Phật, nên chúng ta mới có thể hiểu được câu :

Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng.

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn.

Như vậy khi vãng sanh chắc chắn chúng ta tái sanh về cõi Nhân Thiên vì biết giữ đạo làm người.

Chúng ta cũng có thể bị tái sanh ở cõi khác nếu không tu sửa tánh Tham, Sân, Si để bị luân hồi trong 3 cõi thấp, như khi chết còn tánh tham thì đọa vào Ngạ Qủy, còn sân giận đọa vào cõi A Tu La (thần), còn si mê ngu muội đọa vào súc sanh.

B-Cách chữa bệnh bằng đạo học theo 3 yếu tố Tự Lực, Pháp Lực, Phật Lực :

Trên nguyên tắc thì bệnh nhân phải tự chữa, giữ gìn Thân Khẩu Ý để tránh 3 tội của Thân : không sát sanh, không chiếm đoạt trộm cướp, không dâm dục. 4 tội của Khẩu là nói dối, thêu dệt, thị phi, ác khẩu. 3 tội của Ý là tham, sân, si, tránh làm mọi đều xấu ác, làm mọi điều lành là luyện Pháp Lực.

Những điều này giúp thanh lọc bản thể, và tập khí công bằng cách luyện hơi thở tạo nhịp sinh học đều, dài hơi tăng oxy, nếu thiếu máu theo tiêu chuẩn áp huyết thì ăn uống những thức ăn bổ máu như củ dền rau dền cà rốt, rau lang, xay thành nước cốt uống hay luộc chấm với nước tương. Đó là tự lực.

Nhờ Phật Lực bằng cách niệm 4 chữ A Di Đà Phật theo ngũ giai từ cao xuống thấp, và niệm một hơi tiếng vừa đủ tai nghe theo tiếng niệm để được nhất tâm. 5 câu A Di Đà Phậ mới là một hơi như :

A Di Đà Phật A Di Đà Phật A Di Đà Phật A Di Đà Phật A Di Đà Phật, dùng xâu chuỗi niệm xong 5 câu là một hơi thì tay lần 1 hột, hết 1 xâu chuỗi là 108 hột thì niệm được 540 câu. Khi niệm nghĩ đến đỉnh đầu, hay đặt bàn tay vào nơi bệnh.

Mỗi ngày niệm 20- 30 chuỗi thì đạt được nhất tâm bất loạn, khí lực dư thừa và cơ thể đủ máu sẽ giúp đi nuôi khắp các tế bào, nhưng có sự kỳ diệu là ý ở đâu khí huyết sẽ đến đó, điểm đến giống như một lõi nam châm, bàn tay đặt vào giống như cuộn dây dẫn truyền, tập khí công là niệm Phật tạo ra một lực quay lõi nam châm phát sinh ra nhiệt, ra điện, ra từ trường và ra ánh sáng làm đột phá chuyển hóa tế bào có rung động cùng tần số với tiếng niệm tạo ra một cộng hưởng để vừa chữa được các chất thấp, lại bổ sung cho chất điện và chất quang mở được luân xa đỉnh đầu, phóng ra từ trường mang tín hiệu cùng tần số sóng rung động với Phật A Di Đà có sẵn trong không gian, vì Phật A Di Đà là ánh sáng vô lượng quang, vô lượng thọ, do tập luyện thuần thục sẽ được ánh sáng vô lượng thọ của muời phương chư Phật hộ trì theo.

Do đó hiện nay trên thế gian đã có nhiều bệnh ung thư được chữa khỏi do niệm A Di Đà Phật mang lại nhiều lợi ích như trí sáng tâm khai, sống an vui tự tại, trừ phiền não trái oan, nhẫn nại khoan dung. Chúng ta đã tự tạo đựợc cõi Tịnh Độ khi còn tại thế.

Còn muốn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, vẫn tiếp tục như trên, nhưng phải hành thập thiện, phát bồ đề tâm, và nhất hướng chuyên niệm cầu sanh Tịnh Độ sẽ được biết trước ngày giờ, thân không tật bệnh, xa lìa mọi đớn đau, an nhiên tự tại như vào thiền định theo Phật vãng sanh.

Như vậy là chúng ta chữa bệnh bằng Đạo Học lấy ánh sáng Vô Lượng Thọ Vô Lượng Quang từ cõi giới Tịnh Độ vừa tự chữa được khỏi bệnh vừa được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Tuy nhiên ở thế gian ngày nay lại sinh ra nhiều trường phái chữa bệnh cũng bằng ánh sáng từ nguồn gốc đạo ở nhiều cõi giới khác nhau, như Nhân Điện thầy Lương Minh Đáng từng nói xuất phát từ các vị thầy Ai Cập tái sanh, năng lượng sinh học, luồng điển quang từ cõi Thiên, cõi thánh, thần, A tu La, Ngạ Qủy...người đời gọi là tiềm năng con người, tất cả các cõi đều có thần thông, mình theo vị thầy nào ở cõi nào thì khi tái sanh được về cõi ấy. Chữa cách này mình không cần tự tập mà được thọ ký trên đỉnh đầu sẽ được di dân về cõi nước ấy, được chữa khỏi bệnh và được về những cõi ấy cũng sướng hơn cõi người nhưng vẫn phải lặn hụp trong sanh tử luân hồi, không trở thành Phật như cõi Tịnh Độ để trở lại ta bà hóa độ chúng sanh được.

Thân

doducngoc

---------------

Bài đọc thêm :

1-Ngộ Đạt Quốc Sư :

Thuở xưa về triều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh Ca ma la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm khích phong thái cưa ngài Tri Huyền mới dặn rằng:

-Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.

Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.

Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.

Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của mình. Nhà sư ấy nói:

-Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy khỏi ngay.

Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì bụm ghẻ kêu lên:

-Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?

-Tôi có đọc.

-Ông đã đọc rồi lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bực cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.

Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là “Chí Đức Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc này rõ ràng.

2-Huyệt Cao Hoang :

Ngày xưa vua Tấn Cảnh Công bị bệnh nặng, các thái y đều bó tay không chữa được, phải mời danh y nước Tần là Y Hoàn sang chữa. Lúc đi bộ còn một ngày đường mới đến nơi thì đêm vua Tấn nằm chiêm bao thấy bệnh mình hiện ra 2 đứa trẻ, chúng bàn tán nhau : Tao e rằng mình không tránh khỏi bị hại. Hai đứa bàn nhau đi trốn lên vùng Cao nơi Hoang thì ông ấy cũng không làm hại mình được. Quả nhiên hôm sau ông Y Hoàn xem bệnh cho vua xong rồi tâu : Bệnh của bệ hạ không còn chữa được, vì bệnh đã chạy vào Cao Hoang rồi, nên dù có dùng kim châm hay thuốc uống cũng không vào đến đó được. Vua nghe xong khen là thầy thuốc giỏi, hậu tạ để về Tần.

Câu hỏi 324 : Xin thầy hướng dẫn cách chữa bệnh để sớm có con.

Kính thưa thầy,

Con năm nay 29t, chồng con 30t lập gia đình 4 năm chưa sinh con. Nhận thấy sức khỏe mình kém nên con thực sự chưa muốn sinh con, vì bố mẹ không khỏe mạnh sẽ sinh ra đứa con ốm yếu, sẽ rất tội cho bé. Con đã tìm hiểu và biết được cách chữa bệnh của thầy. Con xin liệt kê tình trạng bệnh và hiểu biết của con về bệnh của mình. Xin thầy hướng dẫn và kiểm tra giúp con.

1. Huyết áp của con đo trước khi ăn: tay trái 96-63/79, tay phải 98-70/80, sau khi ăn 30' là 113-63/101 và 108-66/107.

-Bàn chân, bàn tay lạnh, tê.

-Đi cầu bón. ( gần đây hàng ngày con đều uống sữa đậu nành nên đi cầu bình thường)
- Viêm tai giữa mãn tính, thủng màng nhĩ cả hai tai. Mỗi khi cảm lạnh đều bị chảy nước, mủ rất đau nhức.

- Nhức mắt trái, nhức đầu, không tập trung được, đầu óc trì trệ.

- Cổ họng có đờm, hôi miệng.

- Sa dạ dày.

- Người thừa cân nhưng đoản hơi, yếu sức, chóng mặt, hồi hộp, mất ngủ, sắc mặt xanh, tự ra mồ hôi, sợ lạnh.

- Sau khi ăn nhiều đồ biển hoặc thịt bò, các khớp ngón tay thường bị đau.

- Đầu bốc hơi nóng.

- Kinh nguyệt không đều.

Tự phân tích dấu hiệu bệnh con thấy cơ thể áp huyết thấp so với tiêu chuẩn lứa tuổi, thiếu khí, huyết, tì vị hư hàn, thận dương hư, thiếu vận động nên gây ra các bệnh trên.

Theo hướng dẫn trị bệnh của thầy cho những người bệnh khác con xin liệt kê cách tự chữa bệnh theo tinh- khí- thần.

* Tinh:

- Điều chỉnh cách ăn uống: bớt ăn những thứ hàn lạnh, nên ăn thức ăn nóng ấm làm ấm dạ dày như gừng, tỏi, ớt, tiêu và uống trà gừng sau khi ăn.

- Vì con bị thừa cân và bị đau nhức các khớp ngón tay thì bớt ăn nhiều chất đạm phải không thầy?
- Con bị ra nhiều mồ hôi nên rất háo, khát, có nên hạn chế uống nước không ạ?

- Hiện con đang uống thuốc Bát trân nang để bổ khí, ích huyết. Con có nên uống cao sâm Hàn Quốc và sữa đậu nành hoặc thuốc bổ máu thêm mỗi ngày không ạ?

* Khí:

- Tập 7 bài đầu khí công.

- Cúi ngửa 4 nhịp 20 lần.

- Vặn mình 4 nhịp 20 lần.

- Đứng hát kéo gối lên ngực 200 lần.

- Ép gối thở ra làm mềm bụng 200 lần 30' sau khi ăn.

- Nạp khí trung tiêu.

- Vỗ tay 4 nhịp 200 lần.

- Dậm chân phía trước, phía sau 5 phút.

- Dịch cân kinh 4 nhịp 20 lần.

*Thần: tập đan điền thần 30' trước khi ngủ.

2. Tình trạng bệnh của chồng con:

-Huyết áp đo trước khi ăn: 99-55/76, tay phải 95-52/76, sau ăn là 95-52/76 và 112-63/80.

- Người, bàn chân, bàn tay nóng.

- Đi cầu bình thường.

- Khám tây y kết luận giãn tĩnh mạch tinh hoàn trái, rối loạn cương dương, xuất tinh sớm. Lượng tinh trùng kém.

- Ăn nhiều nhưng mau đói.

- Đau lưng.

Chồng con đang uống thuốc Lục vị địa hoàng bổ thận âm. Con hướng dẫn chồng tập Đan điền tinh trước khi ngủ.

Xin thầy kiểm tra và hướng dẫn giúp chúng con.

Con cảm thấy rất may mắn vì tìm được trang web hướng dẫn tự chữa bệnh của thầy. Con vẫn đang học hỏi mỗi ngày để có kiến thức giúp những người khác. Hiện tại con đang giúp bố mẹ con tập khí công và vào trang web của thầy để tìm hiểu thêm. Con thấy rằng bản thân mình chính là thầy thuốc tốt nhất. Vì vậy con hiểu thông điệp của thầy khi lập trang web này và khuyến khích mọi người tự học và chữa bệnh cho mình. Con rất biết ơn thầy, mong thầy luôn vui tươi.
TT

Trả lời :

Nhiều khi tôi đọc thư hỏi bệnh mà muốn khóc vì sự vô minh của chúng sinh không hiểu luật nhân qủa muốn rước khổ vào mình.

Điều kiện để có con thì cơ thể người mẹ phải có đầy đủ khí và huyết, có nghĩa là đủ máu để nuôi dưỡng bào thai cho khỏe mạnh, khí huyết được đo bằng máy đo áp huyết phải lọt vào tiêu chuẩn tuổi như dưới đây :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg,mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg,mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg,mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi ở trẻ em :

Tuổi từ 0-1 áp huyết 70-90/51 mmHg mạch 110-160, hơi thở 30-40 hơi/1 phút

Tuổi từ 1-2 áp huyết 80-95/58 mmHg mạch 100-150, hơi thở 25-35 hơi/1 phút

Tuổi từ 2-5 áp huyết 80-100/58 mmHg mạch 95-140, hơi thở 25-30 hơi/1 phút

Tuổi từ 5-9 áp huyết 90-105/62 mmHg mạch 80-120, hơi thở 20-25 hơi/1 phút

Tuổi từ 10-14 áp huyết 100-107/69-74 mmHg mạch 60-100 hơi thở 15-20 hơi/1 phút

Phân tích áp huyết của cháu để cháu thấy hậu qủa muốn có con của cháu sẽ như thế nào :

Tay trái 96-63/79, tay phải 98-70/80, sau khi ăn 30' là 113-63/101 và 108-66/107.-Bàn chân, bàn tay lạnh, tê.

Theo tiêu chuẩn KCYĐ, nhịp tim ở tuổi 29 là 65-70, nếu nhịp tim cao hơn thì cơ thể nhiệt, trong khi nhịp tim của cháu sau khi ăn rất cao mà tay chân lạnh, thì đó là áp huyết giả do cơ thể thiếu máu nhiều nên tim phải đập nhanh mới đủ đẩy máu tuần hoàn khắp cơ thể để nuôi dưỡng những tế bào.

Nếu đổi ra áp huyết thật thì nhịp tim tiêu chuẩn phải 70, như vậy nhịp tim của cháu vì thiếu máu tim đã phải đập nhanh hơn :

Trước khi ăn, tay trái 96/63/79, nhịp tim nhanh hơn 9 thì áp huyết thật là 87/63/70, tay phải áp huyết 98/70/80, nhịp tim nhanh hơn 10, nên áp huyết thật là 88/70/70.

Sau khi ăn áp huyết tay trái 113/63/101, nhịp tim nhanh hơn 31, áp huyết thật là 82/63/70, tay phải áp huyết 108/66/107, nhịp tim nhanh hơn 37, áp huyết thật là 71/66/70.

Tất cả những dấu hiệu bệnh đang có là hậu qủa của bệnh thiếu khí huyết, cần chữa gốc bệnh là bổ máu, chứ không cần dùng thuốc chữa ngọn bệnh, bao tử sẽ là thùng rác chứa đủ loại thuốc mà không có khả năng hấp thụ và chuyển hóa trở thành độc tố gây hại cho gan thận.

So với bảng tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi thì khí huyết trong người cháu 29 tuổi, chỉ bằng áp huyết của đứa trẻ 1-2 tuổi, có nghĩa là cơ thể của cháu không đủ máu nuôi dưỡng các tế bào, khi tế bào không đủ máu nuôi dưỡng lâu dài chúng sẽ trở thành tế bào ung thư, nơi nào có nhiều tế bào thiếu máu trở thành ung bướu, tế bào máu không đủ làm sao sinh sản ra trứng tốt để có con khỏe mạnh. Người mẹ đã có dấu hiệu ung thư sinh ra con èo oặt mang mần mống tế bào thiếu máu, tế bào ung thư, nó cũng bị khổ khi sinh ra làm người bệnh hoạn, chính cháu lúc đó cũng bệnh lại nuôi một đứa con bệnh thì cháu thấy cuộc đời sung sướng hay ôm khổ cả một đời.

Áp huyết của chồng cháu cũng do thiếu khí huyết trầm trọng gfiống như cháu.

Vợ chồng cháu muốn có con, thì trước hết phải ăn uống tẩm bổ máu, uống hay chích B12, truyền nước biển, để bổ máu, tập khí công tăng thể lực để bổ khí, trong 6 tháng hay 1 năm, lúc đó khí huyết đầy đủ, theo tiêu chuẩn áp huyết, sẽ sinh ra trứng tốt, sinh ra con khỏe mạnh, nhưng đó chỉ là sinh ra một thân người khỏe mạnh.

Còn muốn sinh con hiếu thảo, ngoan hiền, thông minh, đẹp đẽ, thì cháu cũng phải chuẩn bị ăn chay, tránh dữ, tránh sát sanh, làm những điều lành tạo phước cho con, nếu mình ngỗ nghịch bướng bỉnh bất hiếu với cha mẹ, đối xử thất nhân ác đức với mọi người, thì con mình cũng sẽ giống mình, bướng bỉnh ngỗ nghịch bất hiếu với mình, đối xử thất nhân ác đức với mọi người.

Theo luật nhân qủa từ đời trước, những tác nghiệp đối xử với mọi người tốt xấu như thế nào thì đời này khi sinh con, nếu mình gây oán thù với những người đời trước, nó sẽ tìm cách đầu thai vào làm con mình để trả thù, đòi nợ mình làm cho mình đau khổ, tán gia bại sản vì nó. Còn những người có nợ mình, nó cũng đầu thai vào làm con mình trở thành con ngoan hiếu thảo để trả nợ cho mình. Khi cả hai hết duyên nợ vay trả, nó sẽ bỏ đi, hồn lìa khỏi xác, mình lại khổ đau vì thương nhớ, đa số những đứa con làm khổ mình, mình lại thương nó nhiều nhất nên càng đau khổ hơn...nên đạo Phật khuyên con người muốn tránh khổ đau cần phải tu thiện lành để cải nghiệp, thì nghiệp xấu không có duyên để hình thành.

Ngược lại nếu theo tướng số, một người không có con, thì theo luật nhân qủa, không có ai nợ ai, nên không có con đế đòi nợ hay đến trả nợ. Nếu đời này nhờ tu phước đức ăn hiền ở lành, muốn có con thì Trời Phật cũng sẽ ban cho mình đứa con, người đời gọi là con thánh, nó sẽ được sinh ra bằng phương pháp mổ, chứ không qua cửa ô uế, thì nó được sinh ra để có sứ mạng giúp đời.

Như vậy, muốn có con cũng phải theo luật nhân qủa tốt xấu từ đời trước, nên muốn có con thông minh tài giỏi ngoan hiền thì cần phải tu để cải nghiệp xấu thành tốt.

Vì chúng sinh vô minh không hiểu luật nhân qủa, còn mang nhiều nghiệp xấu, thân đang có bệnh nan y tiềm ẩn, sống chết chưa hay biết, mà muốn có con bệnh hoạn, nên tôi khóc mỗi khi đọc thư hỏi bệnh muốn có con đều nằm trong trường hợp vô minh để lãnh cộng nghiệp tự mình làm cho mình đau khổ suốt đời.

Thân

doducngoc