Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Bài 440 : Những bệnh thuộc chân và cách chữa đơn giản nhiều hiệu qủa.

Khám phá ra nguyên nhân tất cả các bệnh ở chân bằng 4 máy áp huyết, tiểu đường, nhiệt kế, oxymetre và cách chữa hiệu qủa nhanh nhất.

I-Các loại bệnh ở chân :

Bệnh ở chân thông thường là thần kinh tọa, sưng chân gối, sưng háng, phù thủng, phình tĩnh mạch, mạch lươn, sưng đau mắt cá chân, sưng ngón chân, gút, teo bắp chân, cứng chân gối, co rút, tê đau nhức, tê liệt cứng hoặc tê liệt bại xuội, thận bệnh, gan bệnh, hoặc bệnh lở lói da chân do máu nhiệt có nhiều độc tố làm ra bệnh dị ứng, chàm, eczema, zona, herps, dời ăn…

II- Ý nghĩa số đo áp huyết ở chân :

Ở những bài trước, chúng ta đã biết tiêu chuẩn áp huyết ở tay theo tuổi :

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Còn áp huyết ở chân, số đầu cao hơn ở tay 10mmHg theo tiêu chuẩn tuổi.

Số thứ hai ở tay chỉ biên độ giao động co bóp tối đa, tối thiểu của van tim đóng mở, và độ giãn nở của động mạch khi máu bơm ra khỏi tim đo ở tay trái, của tĩnh mạch khi máu trở về tim đo ở tay phải, và khi máy bơm nhồi hai lần trở lên là trong ống dẫn mạch và mạch vành bị tắc nghẽn do cholesterol kết tủa vón thành cục nhỏ, nhưng khi thử mỡ tan trong máu thì không thấy được trường hợp này. Vì khi thử máu tìm mỡ trong tan trong máu không có do chúng ta kiêng ăn chất béo, còn mỡ vón cục kết tủa bám vào thành mạch tim và trôi lăn trong mạch máu giống như mỡ đã đóng cục trong ống dẫn nước ở bồn rửa chén tích lũy nhiều năm làm nghẹt ống thoát nước ở bồn rửa chén, khác với mỡ trôi trong nước khi rửa chén, vì hôm đó không ăn dầu mỡ thì không có.

Khi bị máy bơm nhồi thì không phải do máy hư, chúng ta phải để ý đến kết qủa khi đo ở tay trái hay tay phải có nhiều kết qủa khác biệt, có thể sau khi nhồi cho kết quả cao, có lúc nhồi cho kết quả bình thường, có khi nhồi cho kết qủa thấp, tây y có thể cho là rối loạn áp huyết, nhưng thật ra đây là trường hợp nguy hiểm mà bệnh nhân đã được báo trước bằng dấu hiệu tự nhiên có cơn đau nhói tim ngay giữa ngực nơi huyệt Chiên Trung, khi đi khám tây y, chúng ta khai ra bệnh nhói tim được làm scan, chụp khám không thấy có gì bất thường nên bỏ qua, rồi bỗng dưng chúng ta bị nhồi máu cơ tim do chất béo kết tủa vón cục bị kẹt trong ống động mạch vành, phải vào bệnh viện cấp cứu, mổ bỏ từ 2 đến 6 đoạn ống mạch bị tắc nghẽn do cholesterol kết tủa, thay vào đó bằng những đoạn ống mạch được cắt lấy từ đùi để thay thế một cách oan uổng, vỉ không chữa gốc, vẫn bị nghẹt trở lại.

Để ngăn ngừa trường hợp này, khi bị nhói tim thoáng qua, KCYĐ dùng kim thử tiểu đường châm nặn máu ở huyệt Chiên Trung, và huyệt Thương Dương kinh Đại Trường ở hai đầu ngón tay trỏ nặn máu, nhìn máu thấy đen đặc có váng mỡ, có khi nặn máu không ra, nhưng nặn bóp mạnh tự nhiên máu phun ra thành tia. Sau khi châm nặn máu xong, đo lại áp huyết có kết qủa thấy rõ là máy không còn bơm nhồi, và áp huyết tụt xuống thấp.

Những người có những bệnh tê đau ngón tay trỏ, các ngón tay cứng, đau cả cổ gáy vai, cánh tay trên ở một bên trái hay bên phải, chính là do nguyên nhân áp huyết bên tay đau bị cao hơn bên tay kia, thuộc thực chứng, chỉ cần châm nặn máu đầu ngón tay và huyệt Thương Dương và những điểm đau a-thị-huyệt sau cổ gáy vai, đo lại áp huyết thấy xuống trở lại bình thường thì bệnh đau tay vai và ngón tay sẽ khỏi.

Nhưng đặc biệt đối với chân, số thứ hai của máy đo áp huyết đối với chân không có nghĩa là van tim, mà có nghĩa ống dẫn máu, nếu bị co thắt hẹp lại, số tâm trương dưới 70, hay giãn phình to ra, số tâm trương lớn hơn 80, thì tiêu chuẩn giống với tiêu chuẩn tuổi ở tay.

Số thứ ba là nhịp đập của qủa tim trong 1 phút khi đo ở tay, nhưng ở chân không gọi là nhịp đập của tim, mà gọi là nhịp máu tuần hoàn của các ống mạch chân. Tiêu chuẩn bình thường giống như tiêu chuẩn tuổi ở tay, nhưng khi chân có bệnh, nhịp tuần hoàn khác nhau hoàn toàn, nhưng nó vẫn có giá trị để chẩn đoán bệnh hàn-nhiệt nóng lạnh. Khi nhịp thấp hơn 70 là hàn cao hơn 80 là nhiệt.

III-Cơ chế tuần hoàn máu ở chân :

Về cấu trúc hệ tuần hoàn máu ở chân, đường máu chạy xuống chân từ ống đại động mạch ở háng vùng huyệt Xung Môn chia làm nhiều nhánh kèm theo những dây thần kinh xuống chân xen kẽ trong bắp thịt và dọc ống xương, nhánh lớn sâu bên trong, nhánh nhỏ bên ngoài, nơi vùng bắp đùi non có ống động mạch cung cấp máu cho thần kinh tọa.

Đường máu đi lên gọi là tĩnh mạch đi từ dưới các ngón chân giao nhau với những ống động mạch làm thành nhiều nhánh lên, tập trung vào nhánh lớn lên háng tạo thành đại tĩnh mạch háng ở nơi vùng huyệt Xung Môn. Đặc biệt chỉ ở tĩnh mạch chân cách vài phân lại có một van nhỏ như phễu úp, đáy phễu hướng lên, nhờ chân cử động đi lại, các cơ bắp chân ép những tĩnh mạch này làm máu trong ống tĩnh mạch được bơm dẩy lên từng khoang, theo chiều lên về tim rồi van tĩnh mạch lại đóng lại, như vậy máu đen chỉ về tim mà không đi xuống chân được, khi máu đen theo tĩnh mạch bị bắp chân ép đẩy lên thì tự động máu đỏ trong động mạch được đi xuống đến tận cùng ngón chân.

Theo tài liệu của cơ quan Laboratoire orthopédique Medicus ở Montreal, Quebec, Canada

đã theo dõi áp huyết ở chân để tìm bệnh đã kết luận rằng :

Nếu áp huyểt ở chân cao hơn bình thường sẽ có những bệnh sau :

Cao hơn từ 15-20mmHg thì chân nặng, mỏi, có thể do đứng lâu, ngồi lâu, hay ở những người mang bầu.

Cao hơn từ 20-30mmHg là bị phình tĩnh mạch, sưng phù nhẹ do mang bầu, do tiền căn bệnh loãng xương.

Cao hơn từ 30-40mmHg là phình tĩnh mạch và sưng phù chân cấp độ 1,2, khi mang bầu nặng, hoặc do gẫy nứt xương chân, hay do phản ứng sau điều trị bệnh loãng xương, bệnh phình tĩnh mạch.

Cao hơn 40-50mmHg sưng phù phình tĩnh mạch nặng, mạch lươn, sưng hạch bạch huyết, bệnh nặng cấp độ 2,3.

Cao hơn 50-60mmHg do bệnh sưng hạch bạch huyết…

Đối với đàn ông hay đối với phụ nữ không mang bầu, nhưng do béo phì, uống nước nhiều bụng to nặng như mang bầu cũng bị những bệnh này giống như người mang bầu, nhưng tình trạng sẽ càng ngày càng nặng hơn bà bầu, vì bà bầu sau khi sanh đẻ thì bụng hết to nặng.

Đây là những nghiên cứu bệnh sưng phù chân phình tĩnh mạch, khác với những bệnh tắc ồng tĩnh mạch, tắc động mạch, hoặc thiếu máu cung cấp cho động mạch chân, các ống động mạch tĩnh mạch, dây thần kinh bị teo, làm teo bắp chân không có cơ bắp chân để ép tĩnh mạch cho máu về tim, đau thần kinh tọa, hẹp ống động mạch, tĩnh mạch, hoặc do hậu qủa của mổ xẻ ở lưng, ở chân đùi, hông háng, hay ở bụng dưới làm tắc nghẽn hay đứt dây thần kinh…,

Tôi đã thấy một trường hợp người chồng phải mua một chiếc xe ba bánh đề bà vợ ngồi duỗi chân khi di chuyển đến phòng mạch bác sĩ Văn Văn Của để châm cứu bệnh đau thần kinh tọa, nhìn mặt bệnh nhân từ xa thấy như lúc nào cũng cười mà không nói, khi bà ngồi trên băng ghế chờ, bà di chuyển mông để dời chỗ trên ghế rất khó khăn, nhìn kỹ thì không phải bà cười mà đang nhăn nhó đau dưới bàn toạ kéo dài xuống chân khi thayđổi vị thế ngồi.

Tôi hỏi người chồng nguyên nhân tại sao, ông cho biết bà bị cắt mổ bướu tử cung, vì có quen biết bác sĩ giải phẫu, nên bác sĩ tốt bụng nói rằng cần phải cắt bỏ sâu để khỏi bị di căn, nên hậu qủa làm chạm phải dây thần kinh tọa bị đứt nên thần kinh từ chân kéo dài lên mông bị co rút đau, châm cứu thì đỡ, đi châm cứu 2 năm rồi nhưng không khỏi được bệnh.

Áp huyết ở những trường hợp này là thấp ở chân bên bệnh, chân không bệnh bình thường.

Chân bệnh số thứ hai rất nhỏ, nhịp mạch đập thấp, chân lạnh.

IV-Những trường hợp chữa cụ thể, cách Vỗ Đập Chân :

Cách chữa tổng quát, ví như một bài thuốc chữa bệnh chung cho các bệnh ở chân là cách dùng hai bàn tay đập vỗ đều, lực vừa phải đủ để cơ bắp ép vào ống tĩnh mạch cho đóng van tĩnh mạch, chứ không vỗ qúa mạnh làm vỡ tĩnh mạch..

Cho bệnh nhân nằm trên bàn khám hay trên băng ghế dài hay trên giường. Đo áp huyết chân cho bệnh nhân trước, rồi gác một chân bên bệnh lên tường, thầy chữa dùng hai bàn tay vỗ đập hai bên mắt cá chân bệnh nhân ít nhất 9 lần, cứ vỗ đập từng đoạn ngắn 9 lần đi từ từ dần đến háng, ở đầu gối vỗ nhiều hơn, rồi lại vỗ đi ngược lên từ háng đến mắt cá chân. Sau khi vỗ đập chân xong đo lại áp huyết để kiểm chứng theo dõi sự thay đổi của áp huyết, chúng ta thấy cả 3 số lọt vào tiêu chuẩn, nhưng để ý số thứ hai lớn hơn tiêu chuẩn, có thể lên đến 120 có nghĩa chỉ tĩnh mạch đang phình to do van tĩnh mạch hở, thì nay kết qủa cho ra số thứ hai đã thấp xuống lọt vào tiêu chuẩn là van tĩnh mạch hết bị hở.

Phương pháp này hướng dẫn cho bệnh nhân tự làm nhiều lần ở nhà. Có thể đem bài tập này tập trong lớp vào lúc mọi người tập động công, sau bài Kéo Ép Gối Làm Mềm Bụng, mọi người nằm dơ thẳng một chân lên trời, chân trái trước, tự mình vừa hát vừa vỗ đập từ mắt cá chân xuống đùi háng ở câu hát one. two, three... một câu hát là vỗ xong một lần, hát câu 2 vỗ ngược lên, hát câu 3 vỗ xuống, câu 4 vỗ lên, liên tục hai lần bài hát one, two, three..., rồi đổi chân phải dơ thẳng lên để vỗ giống như chân trái. Bài này cũng chữa được bệnh chuột rút, vọp bẻ.

Phương pháp vỗ đập này cũng có thể áp dụng cho bệnh đau tay vai, bàn tay, ngón tay, khớp...do khí huyết không lưu thông lên xuống đều, do thiếu máu, do tắc nghẽn. Nhưng vì tĩnh mạch ở tay không có van tĩnh mạch, nên bảo bệnh nhân đưa thẳng tay lên khỏi đầu, thầy chữa vỗ đập từ bàn tay xuống cổ tay dần xuống cánh tay ngoài, cùi chỏ, cánh tay trong đến vai, xong bảo bệnh nhân bỏ xuôi tay xuống lại vỗ đập từ vai xuống dần đến bàn tay. Lập đi lập lại 3 lần, chúng ta sẽ thấy kết quả, nếu tê đau lạnh cứng bàn tay thì nay bàn tay mềm, ấm nóng, có mầu sắc hồng, ngược lại bàn tay đau sưng cứng đỏ, khó co duỗi thì nay bàn tay mềm, hết sưng cử động dễ dàng, có nghĩa là vừa chữa được thực chứng vừa chữa được hư chứng, áp huyết cao hay thấp, hàn hay nhiệt, tất cả đều trở lại bình thường.

Sau đó mới chữa chuyên môn cho từng loại bệnh ở chân như dưới đây.

1-Thần Kinh Tọa :

a-Tổng quát áp dụng bài Vỗ Đập Chân.

b-Về bệnh thần kinh tọa, vỗ đập thêm ở đùi trong nơi đùi non là động mạch đùi có ống động mạch và dây thần kinh tọa do bị tắc nghẽn dây thần kinh được dẫn từ đốt sống eo lưng, rồi bệnh nhân nằm úp, dùng hai bàn tay vỗ từ vùng Thận Du, Mệnh Môn ngang eo thắt lưng xuống vùng huyết Bát Liêu (vùng bàn tọa).

Dùng dầu bôi trơn vuốt bằng hai ngón tay cái giữa lưng một đường tử Mệnh Môn xuống Trường Cường, vuốt dọc hai bên cột sống đường dây thần kinh Hoa Đà Giáp Tích xuống Trường Cường.

Để ý khi thầy chữa đang vuốt có phát hiện ra điểm nào đau, điểm nào nổi cộm, hay điểm nào lõm, hay đoạn đốt xương nào lệch, ấn lại vào những điểm nghi ngờ ấy hỏi xem bệnh nhân có đau hay không, rồi hỏi xem bệnh nhân thấy đau điểm nào, những điểm bệnh nhân chỉ là những điểm thần kinh và cơ thịt, hay những khối mỡ dầy lên, tất cả những điểm đau này đều dùng kim thử tiểu đường châm nặn máu, có chỗ nặn không ra máu do nơi này bị tắc nghẽn máu không đến nuôi, hay do áp huyết thấp dưới tiêu chuẩn tuổi, nên không đủ máu tuần hoàn. Nếu áp huyết đủ, chỉ do tắc nghẽn tuần hoàn thì sau khi khí huyết được thông, thông thì bất thống, bệnh khỏi ngay, ngược lại áp huyết thấp không đủ máu, thì uống thuốc bổ máu Bổ Hư Thang là chính và bệnh nhân tự tập bài Vỗ Đập Chân một thời gian đủ khí huyết lưu thông mới khỏi hẳn được.

c-Nằm úp, thầy chữa đè một bàn tay lên lưng vùng Mệnh Môn Thận Du, bàn tay kia nắm cổ chân bệnh nhân, để dang đầu gối như hình con ếch, khi ép gối bệnh nhân cho gót chân chạm vào mông cho đụng vào nơi huyệt Trường Cường đồng thời ấn đè bàn tay ở lưng xuống, cùng lúc bảo bệnh nhân thổi hơi ra để gân cơ lưng chân đùi mềm, được giảm đau, cứ mỗi lần ép chân ấn đè lưng là bệnh nhân thổi ra, mỗi lần ấn đè thì bàn tay ở lưng di chuyển dần xuống xương khu, rồi đi dần dần ngược lên đến Can Du, lại đi dần dần xuống xương khu, mục đích dùng hơi thở bệnh nhân và bàn tay ấn đè lưng của mình để nắm chỉnh lại cột sống, giãn đĩa đệm bị chèn ép ở đốt xưong sống lưng làm tắc nghẽn thần kinh tọa. Ấn đè chân này xong, ấn đè chân kia.

d-Bệnh nhân nằm ngửa, tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mền Bụng 100 lần. Bệnh Thần Kinh Tọa không được áp dụng bài Nạp Khí Trung Tiêu, trừ khi đã khỏi bệnh.

e-Sau đó đứng lên đi lại hay ngồi xuống, hoặc cúi ngửa xem còn đau nơi nào thì châm nặn máu nơi đó tiếp, rồi tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp, Dậm Chân Phía Trước Phía Sau/Chachacha, Dịch Cân Kinh 4 Nhịp, bài Đá Chân, bài tập thăng bằng thả lỏng lắc đong đưa một chân ra phía trước phía sau, cần chân lắc ra phía sau nhiều hơn...Dặn bệnh nhân khi tập những bài này, hãy tìm những điển đau để châm nặn máu tiếp, sau đó dán miếng cao nóng 2cm vuông lên những điểm đau để làm ấm nơi đó cho khí huyết được lưu thông, giảm đau.

Dặn bệnh nhân về nhà tự tập những gì đã tập ở lớp.

2-Sưng đau gối, mắt cá chân :

a-Bài Vỗ Đập Chân.

b-Chú ý vỗ đầu gối hay mắt cá, tìm điểm đau châm nặn máu, các điểm đau này sẽ hiện ra khi bệnh nhân đứng xuống tập đi lại, hay tập ngồi xuống đứng lên, rồi chỉ ra điểm đau để châm nặn máu tiếp.

c-Bệnh nhân nằm úp, thầy chữa dùng ngón tay cái ấn đè day huyệt Ùy Trung khi bàn tay kia cầm cổ chân bệnh nhân để thẳng đứng một góc 90 độ, có nghĩa là bàn chân hướng thẳng lên trời, lắc qua trái qua phải cùng lúc ấn đề day huyệt Ủy Trung cho khớp gối tách ra mới có thể gấp gối vào mông được.

Có hai loại đau gối do cứng không gấp bẻ gối vào mông được, gót chân còn cách mông 1 gang tay, thầy chữa đứng sang bên hông cùng bên phía chân đang chữa, một ngón tay ấn đè huyệt Ân Môn, bàn tay kia cầm gót chân ấn vào mông từ từ bảo bệnh nhân thổi hơi ra làm mềm cơ và giảm đau, hoặc đứng ngược lại bên hông bên kia, đứng hơi cao để có thể luồn tay vào huyệt Xung Môn, nơi háng bên phía chân gối đau, dùng 5 ngón tay móc lên cùng lúc bàn tay kia ấn đề gót chân bệnh nhân khép gối cho gót chạm mông dễ dàng, khi gót chân đã chạm mông, thì bàn tay ở huyệt Xung Môn bỏ ra đặt lên lưng bệnh nhân vùng Mệnh Môn, vừa ấn gót chân vừa ấn lưng khi bệnh nhân thở ra, rồi giữ nguyên gối ép ở mông, bỏ bàn tay đặt ở lưng ra, dùng bàn tay vỗ đập từ lưng xuống dần đến đùi ngoài xuống đến đầu gối, và vỗ nhiều ở đầu gối, sau đó vừa vỗ đầu gối vừa ấn đè gót chân vào mông, đến khi bệnh nhân không đau đầu gối là khỏi bệnh.

Trường hợp chưa ép gối vào mông mà chân vô lực, mền nhũn, ép gối dễ dàng, là thuộc hư chứng, áp huyết chân thấp, thì cho đứng Hạc Tấn giúp khí huyết xuống chân, và bài Dịch Cân Kinh 4 Nhịp. Dậm Chân Phía Trước Phía Sau/Chachacha.

Nếu đầu gối mòn, khi đi bị đau khớp, do thiếu chất nhờn, dùng 5 đậu bắp rửa sạch, thái vát chéo thành miếng mỏng 1cm, bỏ vào tô, đổ nước ngâm một đêm cho ra nhựa, sáng hôm sau lấy nhựa Đậu Bắp này uống sống, mỗi ngày làm một lần trong 1 tuần để tạo chất nhờn cho các khớp, vừa chữa bệnh khô đau các khớp, vừa hạ tiểu đường trong máu.

d-Còn bệnh thực chứng, cho bệnh nhân tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng, rồi bài tập bước lên cầu thang thứ nhất, bước lên bước xuống theo bài hát one, teo, three...sau cùng đến bài Dịch Cân Kinh 4 Nhịp, nếu tập bài này phát hiện ra điểm đau a-thị-huyệt thì dùng kim thử tìểu đường châm nặn máu, rồi tập lại, có điểm đau mới di chuyển đi chỗ khác cũng châm nặn máu tiếp cho đến khi ngồi xuống đứng lên không đau.

Bí quyết muốn ngồi cho khỏi ngã té hay khỏi đau, thì cần phải kiễng gót chân cho cao lên ,lưng thẳng, mới từ từ hạ thẳng lưng ngồi xuống cho mông chạm gót chân mới khỏi bệnh dược.

Dặn bệnh nhân tự tập ở nhà những bài này mỗi ngày.

3-Sưng đau háng :

Do động mạch và tĩnh mạch ứ tắc khí huyết không thông bởi bụng to chặn đường máu lưu thông lên xuống nơi háng,

a-Tập bài tổng quát Vỗ Đập Chân.

b-Dùng hai ngón tay cái vuốt từ huyệt Huyết Hải lên Xung Môn ở háng 18 lần.

c-Bảo bệnh nhân tập bài Kéo Ép Gối thở Ra Làm Mềm Bụng 100 lần bên háng đau, cùng lúc nắm một bàn tay đè chặn lại nơi háng ở huyệt Xung Môn làn tan máu ứ, sau đó tập bài Nạp Khí Trung Tiêu..

Kiêng ăn no, kiêng uống nhiều nước 1 lần.

4-Phù thủng khí hay phù thủy thủng, phình tĩnh mạch, mạch lươn, sưng phù ống chân :

a-Chữa tổng quát bài Vỗ Đập Chân

b-Vuốt 6 đường kinh chân.

c- Châm nặn máu 5 đầu ngón chân

d-Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng

e-Ép gối, đưa gót chân vào mông cùng lúc ấn đè lưng khi bệnh nhân thở ra để giảm đau.

d-Nếu nhìn thấy mạch lươn, những ống tĩnh mạch hiện ra ngoài chân, dùng máy bấm kim tiểu đường châm nặn máu ở những giao điểm những mạch máu nhỏ mầu xanh đen, hoặc nơi nổi hạt cộm hay nơi bệnh nhân chỉ đau.

Tập bài Dịch Cân Kinh 4 Nhịp.

So sánh áp huyết trước khi và sau khi chữa.

5-Sưng đau mắt cá chân hay sưng đau ngón chân do té ngã trật chân :

a-Tập bài Vỗ Đập Chân chừa nơi mắt cá đang đau.

b-Chân nặn máu nơi sưng đau, mầu tím, mầu đỏ bầm nơi huyết tụ, nặn máu nơi những điểm đau.

c-Châm nặn máu thông 5 đường kinh.

d-Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng

g-Đứng Hạc Tấn để tìm điểm đau nặn máu.

h-Tập Dậm Chân Phía Trướa Phía Sau/Chachacha và tập lên xuống một bậc thang tim điểm đau châm nặn máu tiếp.

i-Cuối cùng có thể Vỗ Đập Chân mà hết điểm đau thì khỏi, mặc dù đi chụp xương thấy nứt xương, mà khí huyết lưu thông không đau, thì tự nó đã đưa huyết thanh và vit.K cầm máu vết nứt, vết nứt xương tự lành.

Dặn bệnh nhân áp dụng ở nhà những bài tập này, và uống Bột Điền Thất thay trà 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 thìa cà phê, làm tan máu bầm thông khí huyết, giảm sưng đau.

6-Sưng ngón chân, bệnh gút :

a-Vỗ Đập Chân.

b-Châm nơi đau ở các ngón chân, nặn máu có nhìều biểu hiệu, máu không ra, ra máu bầm đen, ra máu đặc, ra mủ trắng, ra cục vôi lỏng, cứ nặn tiếp tục những chỗ đau, nặn xong, nắm các đầu ngón chân day xoay trái phải để thông khí huyết ra đầu ngón chân.

c-Vỗ Đập từ mắt cá chân xuống bàn chân ngón chân ở thế nằm đưa chân thẳng lên trời cho thông những ống tĩnh mạch để đưa máu đen về tim, lúc đó máu đỏ không xuống chân, rồi ở thế ngồi buông thõng chân, vỗ đập từ đầu gối xuống mắt cá, bàn chân, ngón chân để máu đỏ đi xuống, vỗ ngược lên cho máu đen về tim, khi máu đen về tim thì máu đỏ mới đi xuống. Làm nhiều lần.

c-Cho bệnh nhân tập bài Dậm Chân Phía Trước Phía Sau/Chachacha, nếu khi tập còn điểm đau châm nặn máu tiếp.

d-Dặn bệnh nhân uống nước cam, uống nhiều nước làm loãng máu, kiêng ăn thức ăn cay, đồ biển co nhiều chất vôi, kiêng coke, cà phê, đường.

7-Bắp chân co rút, gân co rút tê đau, hoặc cảm giác như kiến bò, không phải là đau thần kinh tọa.

a-Áp dụng bài Vỗ Đập Chân tổng quát.

b-Đo nhiệt độ nơi tê đau, vùng cảm giác kiến bò, so sánh nhiệt độ với những nơi không đau, sẽ thấy hai loại bệnh thực và hư, thực chứng có nhiệt độ cao hơn nơi khác, hư chứng nơi đó không đo được nhiệt độ, nếu áp huyết chân thấp mà áp huyết tay đủ thì do tắc nghẽn cục bộ bị tắc nơi động mạch háng do động mạch không đưa máu xuống chân hay do phình tĩnh mạch máu đen không về tim.

Nếu thời gian phình tĩnh mạch để lâu không chữa khỏi, máu đen không về tim được làm máu đỏ xuống chân bị ứ tắc, thì làm tim thiếu máu tuần hoàn, khiến nhịp tim đập nhanh, rồi van tim bị hở cũng gây ra trường hợp nhói tim, như vậy gốc bệnh không phải ở tim khi đi mổ tim, mà gốc bệnh ở chân giữ lại một lượng lớn máu ứ bị tắc nghẽn, nhất là ở những người mập phì bị bệnh tim hở van, môi thâm xệ vì nguyên nhân này. Những dấu hiệu tê chân, cảm giác như kiến bò, rồi đau ngón chân là nơi giao điểm động mạch tĩnh mạch.

Do động mạch tắc, máu đỏ không xuống khi bắp chân ép máu đen ở tĩnh mạch lên, như vậy chân từ từ không có máu nuôi, các ống máu teo nhỏ lại, mất cơ bắp chân gây đau.

Do phình tĩnh mạch, máu đen không di chuyển thì máu đò cũng không xuống chân được trở thành máu ứ làm độc gây nóng lở da chân, sung huyết, sưng phù chân, nếu ăn nhiều đường, máu tăng nồng độ làm mủm da tróc thịt hoại tử.

Do đó tập Vỗ Đập Chân nhiều, thiếu máu thì dùng thêm thuốc bổ máu để đủ máu đỏ xuống chân để các ống máu ở chân không bị teo rút làm đau. Máu đủ mà do tắc động mạch háng hay phình tĩnh mạch chỉ cần tập bài Vỗ Đập Chân ngày 10 lần trong 1 tuần bệnh bớt nhanh trông thấy, đo áp huyết trước và sau khi tập mỗi ngày để so sánh.

8-Tê liệt chân tay co cứng và tê liệt bại xuội.

Tê liệt cứng bởi áp huyết qúa cao làm đứt mạch máu não, tê liệt bại xuội chia hai loại, loại do uống thuốc chữa cao áp huyết đến nỗi áp huyết tụt thấp dưới 100 làm tắc máu lên nuôi não, loại thứ hai không phải là bệnh cao áp huyết mà là áp huyết thấp do cơ thể thiếu khí huyết chạy trong ống mạch và dây thần kinh gân cơ bị teo rút mất lực cử động. Kiểm chứng bằng cách cầm tay và chân bệnh nhân liệt bại xuội dơ lên dơ xuống vẫn cử động được nhưng bệnh nhân đau, một mình bệnh nhân thì không cử động được, đi không vững, chân yếu không nhấc đi hay đứng vững, tay không có sức cầm vật gì. Khác với liệt co cứng khớp, tay chân kéo ra co vào không được.

a-Cả hai bệnh tê liệt co cứng và bại xuội cũng áp dụng được bài Vỗ Đập Chân và Tay, nhưng cách chữa co cứng nếu biết cách chữa thì kết qủa nhanh hơn, còn chữa bại xuội liệt mềm lâu hơn vì phải mất thời gian dủng thuốc bổ máu, cho tăng khí lực và đủ máu phục hồi nuôi lại gân cơ, và thời gian tập luyện lâu hơn.

Bệnh tê liệt co cứng chỉ cần châm nặn máu giải những chỗ bế tắc, khai mở kinh mạch, làm mềm gân, châm nặn máu ở đầu ngón tay ngón chân để thông đường kinh.

b-Riêng chân co cứng, cho bệnh nhân ngồi trên giường, cần một người ấn đè đầu gối bên chân liệt ép sát xuống giường làm sao cho chân duỗi thẵng, rồi vỗ đập chân từ trên háng xuống mắt cá và bàn chân, rồi vỗ ngược lên, làm thông máu ứ do những ống tĩnh mạch ngưng chảy vì chân liệt đã không cử động để ép máu trong ống tĩnh mạch đưa máu đen về tim để có chỗ cho máu đỏ trong ống động mạch đi xuống. Cần phải vỗ nhiều lần cho máu lưu thông đầy đủ các ống động mạch tĩnh mạch và các dây thần kinh, giúp cho chân nhẹ không bị nặng nề, bệnh nhân có cảm giác chân nhẹ dễ đi.

c-Cho bệnh nhân nằm úp, cũng cần người giữ chân cho thẳng, vỗ đập từ lưng xuống chân, vỗ xuống, vỗ lên nhiều lần.

d-Áp dụng bài ép gối cho gót chân chạm mông, ấn huyệt Ủy Trung cho thông khớp gối, day mạnh 5 đầu ngón chân, cầm bàn chân bẻ ngược 5 ngón chân lên, rồi lại bẻ 5 ngón chân cụp xuống, tập bẻ lên bẻ xuống nhiều lần, để khi đi bàn chân không bị lết.

e-Cho bệnh nhân ngồi trên ghế, tập cho bệnh nhân đứng ngồi có người phụ giúp nâng hai bên nách, làm sao cho lưng đứng thẳng, nếu đứng thẳng được sẽ đi được.

f-Sau đó hai người đứng cạnh hai bên bệnh nhân, cầm tay nâng nách để đề phòng nâng nách khi muốn ngã, dắt đi từng bước ngắn từ từ, sau tinh thần bệnh nhân vững, chân lưng vững thì dắt đi bước dài. Kế tiếp chỉ cần một người dắt đi, đứng phía bên chân liệt.

g-Những buổi tập sau cũng Vỗ Đập Chân ở thế nằm ngửa, một người đỡ chân chỉ thẳng lên trời, một người vỗ đập cho máu tĩnh mạch về tim, rồi bệnh nhân ngồi cho chân gối thẳng có người ấn đè giữ cho gối sát xuống giường, vỗ đập chân tiếp cho thông động mạch, tĩnh mạch, rôi cho bệnh nhân ngồi buông thõng chân xuống vỗ đập tiếp.

Nằm úp ép gối cho gót chân chạm mông, nằm ngửa Kéo Gối Lên Ngực, tập ngồi ghế đứng lên ngồi xuống, rồi mới tập đi.

h-Tập đi lần này, thầy chữa đứng trước bệnh nhân cầm bàn tay bệnh nhân kéo nhẹ bệnh nhân đi bước dài, cần một người đi sát đằng sau lưng đề phòng bệnh nhân té ngã. Khi đã đi được chậm mà vững thì cho bệnh nhân đi một mình, cho bệnh nhân dùng hai tay vịn chiếc ghế dựa, dưới chân ghế có gắn bánh xe, hoặc đi vịn bàn, vịn tường, hay đi bằng khung tập đi có gắn bánh xe gọi là walker (tiếng Anh), hay marchette (tiếng Pháp).

Nếu bệnh nhân lưng thẳng chỉ bị một chân yếu không có sức như liệt mền, áp dụng phương pháp hai người đi ba chân, hay dùng dây đeo, hai người đeo dây vòng lên vai mình và luồn qua mông đùi bệnh nhân như một cái võng, dắt bệnh nhân đi, khi bệnh nhân bị khuỵu chân xuống thì đã có võng nâng người nên không thể té ngã được. Hai người đi bên cạnh vừa giữ eo lưng bệnh nhân, bàn tay kia mỗi người cầm một bên tay bệnh nhân, cứ để bệnh nhân tập bước đi từ từ.

Sau đó, cả hai loại bệnh tê liệt đã đi được một ít, thì cho tập đi lên đi xuống cầu thang có tay vịn, sẽ đi vững có kết qủa nhanh hơn đi đường bằng phẳng.

9-Bệnh ngoài da lở lói sưng đau nhức do máu có nhiều độc tố.

Cần uống Phan Tả Diệp mỗi ngày 5 viên trong 1 tuần, xay trái Khổ Qua bỏ hột, lấy nước rửa những chỗ ghẻ ngứa mụn, da lở loét, dời ăn, chàm, eczema, herps, zona, ghẻ, châm nặn máu độc, 3 lần mỗi ngày và gác chân lên tường Vỗ Đập Chân lên xuống nhiều lần, càng nhiều càng tốt làm chân đang sưng nóng đỏ đau sẽ trở lại nhiệt độ bình thường mau lành vết thương. Đo độ trước sau khi chữa để biết nhiệt độ trở lại bình thường không hàn không nhiệt.

V-Những thí dụ trong một vài ca chữa :

1-Một bà tây, giáo sư đại học âm nhạc 70 tuổi, mổ xương hông,

Trước khi chưa mổ, hai chân không bằng nhau, chân thấp chân cao, làm vẹo cột sống lưng làm tắc khí huyết xuống chân nên đi bị đau lưng hông. Sau khi mổ, cột sống lưng thẳng đi không bị lệch cột sống, hai chân dài bằng nhau, nhưng do vết mổ sâu ở sau mông chéo qua hông đã chạm thần kinh tọa, bệnh nhân lại bị đau thần kinh tọa, nên đứng lâu, ngồi lâu bị đau.

Tôi đo áp huyết chân không bệnh thì bình thường, 155/75mmHg mạch 75 còn chân bệnh có số đo áp huyết 140/65mmHg 65, tôi hỏi chân này là chân đang bệnh, bà bị đau ở đâu, bà chỉ đau từ lưng dưới mông đến đùi ngoài, khi mở ra xem, tôi thấy vết mổ có mầu tím đỏ, tôi dùng nhiệt kế đo nhiệt chung quanh và dọc vết mổ, chỉ có hai nơi đầu và cuối vết mổ 37.5-38.2 độ, các nơi chung quanh 36.2 –36.5độ. Tôi dùng kim thử tiểu đường châm nặn máu ra máu đen, đo lại nhiệt kế xuống 36.3 độ, tôi bảo bà đi xuống đất vận động đi lại xem còn đau không, thì bà thấy nhẹ chân, đi đứng dễ dàng, nhanh nhẹn hơn.

2-Một bà tây khoảng 50 tuổi, kêu đau nhức chân.

Tôi đo áp huyết hai chân, chân trái có số đo 141/92mmHg mạch 75, chân phải 136/82mmHg mạch 74, nếu so với áp huyết tiêu chuẩn thì bà bị phình tĩnh mạch ở hai chân nhưng chân bên trái nặng hơn, so với áp huyết tiêu chuẩn :

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

Tôi hỏi bà bị đau ở đâu, bà chỉ sau nhượng chân kéo xuống bắp chân bên trái. Khi vén quần lên mới thấy những tĩnh mạch bị giãn nhẹ nổi lên như màng lưới mầu xanh tím đen, nhưng có những đoạn có nổi cộm nhỏ như hạt gạo, tôi dùng máy thử tiểu đường châm nặn máu ra máu đen, thử luôn độ đường ở nơi nặn máu có độ đường thấp 5.4mmol/l là nơi đó bị hàn lạnh, không nên dùng kim không, mà phải bỏ qua máy bấm, vì như thế sẽ kim sẽ không châm sâu từ 2-3mm làm tổn thương sưng tĩnh mạch, còn nếu kim bỏ qua máy, chỉ châm kêu tách một cái, kim châm nông 1mm, sẽ không tổn thương làm sưng tắc tĩnh mạch, khi châm những chỗ mình thấy, và do bệnh nhân chỉ, là chữa ngọn, còn những tĩnh mạch nằm sâu bên trong bắp chân, do máy đo được, mình không thể châm được để chữa gốc, thì áp dụng bài tập sau :

Bảo bệnh nhân nằm ngửa gác một chân lên tường, mình dùng hai bàn tay vỗ dọc từ hai mắt cá chân phía trong phía ngoài, vỗ song song xuống dần dọc hai bên chân đùi xuống háng, rồi lại vỗ từ dưới háng đến mắt cá chân, từ mắt cá chân xuống háng, rồi bảo bệnh nhân tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng chỉ một bên chân, lúc đó mình dùng nắm tay chặn ở háng nơi huyệt Xung Môn để cho máu đen trong ống tĩnh mạch lên đại tĩnh mạch háng về tim. Sau đó đo áp huyết ở chân sẽ thấy hết bị phình tĩnh mạch, nó có số đo là 142/68mmHg mạch 72, như vậy van tĩnh mạch đã khép chặt lại không còn bị hở để máu đen không rơi trở lại ống chân nữa.

Bài tập về nhà là Dậm Chân Phía Trước Phiá Sau/Chachacha để bắp chân ép tĩnh mạch cho máu đen về tim.

Tình trạng phình tĩnh mạch, mạch lươn để lâu không chữa khỏi, máu đen không về tim được thì sinh ra biến chứng hở vam tim, khiến nhịp tim đập nhanh không do sốt nhiệt mà là bệnh của tim mạch.

3-Một ông tây 62 tuổi, bị bệnh sưng đỏ cứng bắp chân, lở da, chân to gấp rưỡi chân lành, đi cà nhắc do đau.

Đo áp huyết chân lành có số đo là 155/92mmHg mạch 78, số đo chân bệnh 185/110mmHg mạch 102 chứng tỏ chân này bị phình tĩnh mạch, mạch nhiệt, đo nhiệt kế chỗ bình thường 36.5 đến 36.9 độ, chỗ bệnh, nơi da đỏ đậm nhiệt kế chỉ 39 độ, nơi đỏ tím bầm 38 độ C trở lên, nơi da thâm đen chai cứng 37.2-37.5 độ. Đo nồng đô đường nơi chai cứng 8.0mmol/l, nơi nóng nhất 18.0mmol/l, những nơi đỏ 38.0 nồng độ đường 14.0-16.0 mmol/l., các ngón chân đo oxymeter máy không chỉ vì sensor không bắt được máu chạy qua, châm nặn máu ở 6 tĩnh huyệt chân không ra máu. Đã chữa theo tây y bôi kem chống nhiễm trùng lở lói và uống trụ sinh 6 tháng càng ngày càng nặng.

Những thử nghiệm của KCYĐ cho thấy tuần hoàn máu xuống chân bị tắc, máu đen trong những ống tĩnh mạch bị hở van giãn nở làm máu đen không về tim khiến máu đỏ ứ tụ trong ống chân nơi mắt cá làm thoái hóa xương, theo tiêu chuẩn Laboratoire Meducus thuộc độ nặng cấp 2,3.

Do đó KCYĐ không chữa ngọn, mà chữa gốc, khuyên bệnh nhân mua loại vớ dầy, đàn hồi, để bóp chặt chân đùi giúp cho tĩnh mạch không bị phình giãn làm van tĩnh mạch hở thêm. Cho bệnh nhân gác chân lên tường, dùng hai bàn tay vỗ đập từ mắt cá chân xuống háng, rồi từ háng vỗ lên mắt cá nhiều lần, rồi cho bệnh nhân Kéo Gối dùng nắm tay của mình chặn ở háng cho máu đen về đại tĩnh mạch háng được chuyển về tim. Sau cùng châm nặn máu 5 đầu ngón chân, máu đỏ chảy ra đều 5 ngón, cho bệnh nhân tập bài Dậm Chân Phía Trước Phía Sau/Chachacnha, đo lại áp huyết sau khi tập có số đo 1160/95mmHg mạch 80. Dặn bệnh nhân về nhà tập tiếp nhiều lần trong ngày, tuần sau tái khám.

Tuần sau, bệnh nhân trở lại, một chân có đi vớ đặc biệt ép tĩnh mạch, chân bớt nóng, bớt sưng đau, đo áp huyết trước khi chữa 168/98mmHg mạch 90, sau khi chữa cũng như trên rồi đo lại bằng nhiệt kế đồng đều các nơi từ 36.8 đến 37.3 độ, độ đường nơi đỏ nhất 8.8mmol/l, thấp nhất 6.1mmol/l, đo oxymetre ở 5 đầu ngón chân có oxy 99, áp huyết sau khi chữa 158/88mmHg mạch 78. Ông cho biết vẫn tập bài gác chân lên tường Vỗ Đập Chân rất có hiệu qủa.

4-Những bệnh nhẹ trở thành nặng, biết bệnh nhân sẽ chết dần trong điều kiện không thể chữa.

Một người do uống nhiều thuốc chữa bệnh cao áp huyết, tiểu đường, cholesterol tuân thủ đúng theo cách chữa của tây y, khi áp huyết thấp cơ thể thiếu khí huyết, uống nhiều loại thuốc làm hại gan thận và hại da bị dị ứng, sau đó vẫn dùng thuốc nhưng đổi chế đô ăn gạo lức muối mè cho người bớt độc tố, xuống cân. Sau 5 năm cơ thể suy nhược, thiếu máu, áp huyết thấp, mất cơ bắp chân, nên khi đi hay cử động chân cũng không còn cơ bắp ép máu đen ở tĩnh mạch về tim, máu đỏ đi xuống cũng bị ứ đọng theo, từ từ chân phù nề, đi đứng yếu đuối hay bị ngã, từng ra vào nhà thương nhiều lần tìm không ra bệnh lại về, nhưng thuốc áp huyết vẫn được tây y cho uống, lần cuối cùng vào bệnh viện nằm theo dõi, người nóng sốt, đường trong máu tăng cao, nhịp tim nhanh, trong tình trạng yếu sức không cử đông, mắt nhắm hôn mê, không ăn nói nuốt được phải cho ăn sữa chuyền ống qua mũi.

Lúc thân nhân mời tôi đến bệnh viện, áp huyết trên máy chỉ giao động từ 108-115/65-54mmHg nhịp tim 123, bệnh nhân không cần trợ thở bằng máy oxy, sốt 41.5 độ, chân tay nóng, đường trong máu 24.0mmol/l.

Khi tây y chữa giảm sốt, hạ đường bình thường nhưng mạch vẫn chỉ 123, biểu đồ biên độ giao động hình Sin ngấn, không đều, có chỗ hình Sin kéo dài, có chỗ hình răng cưa, có chỗ kéo dài hình vuông, là nhịp tim loạn..

Theo KCYĐ van tim co thắt hẹp qúa, tâm trương 54, thiếu máu nên tim đập nhanh 123 lúc đó cơ thể hết nóng mà tay chân lạnh, để oxymetre ở tay có ngón tay giữa tâm bào và ngón cái phế chỉ 90-95, có ngón trỏ đại trường chỉ 70, là ruột không co bóp, còn ở các ngón chân oxymeter không bắt được, bàn chân ngón chân lạnh, bắp chân teo, cơ thể đang chết dần từ chân.

Bệnh này không phải hôn mê do tai biến, vì khi cầm đầu gối bệnh nhân lay lắc thì bệnh nhân mở mắt, càng lay mạnh mắt càng mở to, nhưng không có thần, không có hồn để nhận biết người thân, không lắc chân thì mắt khép lại, như ngọn đèn dầu leo lét. Người thân nhờ tôi chữa cũng không thể chữa vì đổi ra áp huyết thật so với người khỏe bình thường có nhịp tim 80, thì do thiếu máu trầm trọng nhịp tim mới phải bơm nhanh 123, đã nhanh hơn 43 nhịp, áp huyết trên máy lúc đó ở nguyên số 108 đổi sang áp huyết thật thì 108 trừ đi 43, áp huyết thật bây giờ là 65/54mmHg mạch 80 là áp huyết báo chết vì cơ thể không còn đủ máu để phục hồi tế bào làm việc nữa. Muốn tế bào phục hồi phải tiếp nhiều bịch máu, bệnh viện cũng đã tiếp máu, nhưng không còn tỉnh để tập khí công tăng oxy để bảo quản máu, thì số máu đó cũng thiếu oxy trở thành máu chết.

Đó là lý do biết tình trạng bệnh mà không cứu được. Chỉ xin nêu trường hợp điển hình này để chúng ta biết cách tự theo dõi sức khỏe mình xem tình trạng khí huyết của mình còn đủ hay thiếu bằng cách thường xuyên đo áp huyết mỗi ngày ở hai tay, và chúng ta sẽ thấy máy đo áp huyết chính là một bác sĩ giỏi nhất có mặt trong gia đình mỗi ngày để nhờ vả khám định bệnh theo dõi sức khỏe cho mình hầu tránh phải vào bệnh viện cứu chữa khi đã qúa muộn mà bác sĩ cũng vẫn chưa tìm ra nguyên nhân bệnh.

Còn nhiều trường hợp khác đã được viết trên trang nhà và forum để các bạn tham khảo.

Thân

doducngoc

Thứ Tư, 28 tháng 3, 2012

Câu hỏi 301 : Định bệnh áp huyết ở trẻ em

Thưa Thầy Admin và các bạn đồng nghiệp .

Ở trẻ em thường khi khám bệnh ít đo huyết áp nhưng khí công căn cứ vào huyết áp để chẩn đoán bệnh . nhưng đánh giá thì chưa biết như thế nào?

Một cháu bé 7 tuổi bề ngoài nhanh nhẹn , mẹ cháu nói hơi còi và lười ăn, hay kêu nóng và hay ra mồ hôi trộm vùng đầu khi ngủ, ra chừng 1 tiếng thì tự hết nhưng nếu không lau thì dễ bị ho. môi miệng và lòng bàn tay chân hơi nhợt không được đỏ như bình thường. đêm nằm nóng hay đạp chăn ra mặc dù mùa đông lạnh.thích uống nước lạnh, trước kia thính thoáng có cháy máu cam nhưng lâu rồi không bị,lâu lâu sò tay chân nóng nhưng không co biểu hiện của viêm nhiễm ở đâu

Khi đo huyết áp thì mạch nhanh dù mới ngủ dậy, tay trái 110/61mach 101 . tay phải 104/58 mach 89 cháu không sốt

Theo tiêu chuẩn khí công của Thầy Ngọc thì như vậy huyết áp cao, nhưng mạch nhanh như vậy thì mình đánh giá như thế nào mới đúng. ỏ đây la huyết áp cao do nguyên nhân gì ? mạch nhạnh là do nhiệt hay thiếu máu ? hay huyết áp giả

Học trò muốn hỏi là đánh giá huyết áp ở trẻ em có gì khác so với người lớn hay không

Cám ơn thầy Admin và các bạn đồng nghiệp

Trả lời

1-Đo áp huyết cho trẻ em có máy đo với vòng quấn ở tay nhỏ hơn, không dùng máy có vòng quấn tay của người lớn kết qủa sẽ cao hơn là đo bằng máy cho trẻ em.

Tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi ở trẻ em :

Tuổi từ 0-1 áp huyết 70-90/51 mmHg mạch 110-160, hơi thở 30-40 hơi/1 phút

Tuổi từ 1-2 áp huyết 80-95/58 mmHg mạch 100-150, hơi thở 25-35 hơi/1 phút

Tuổi từ 2-5 áp huyết 80-100/58 mmHg mạch 95-140, hơi thở 25-30 hơi/1 phút

Tuổi từ 5-9 áp huyết 90-105/62 mmHg mạch 80-120, hơi thở 20-25 hơi/1 phút

Tuổi từ 10-14 áp huyết 100-107/69-74 mmHg mạch 60-100 hơi thở 15-20 hơi/1 phút

Áp huyết tiêu chuẩn tuổi thiếu nhi của KCYĐ :

Tuổi từ 5-12 áp huyết 95-100/60-65mmHg mạch 60

2-Đối với cháu này áp huyết tay trái 110/61mach 101 . tay phải 104/58 mach 89 so với tiêu chuẩn trẻ em ở tuổi 5-9 áp huyết 90-105/62 mmHg mạch 80-120, hơi thở 20-25 hơi/1 phút, thì cháu bị cao áp huyết do chức năng bao tử đầy hơi chậm tiêu, không hấp thụ và chuyển hóa nên lười ăn, còn mạch thì không cao, do đó thỉnh thoảng khi cháu chạy nhảy nô đùa mạnh thì bị chảy máu cam khi áp huyết bên tay phải cao hơn tiêu chuẩn và mạch tăng lên 100 là nóng chứ không phải là bệnh nhiệt. Khi sốt nhiệt mạch nhanh hơn 120 và hơi thở nhanh hơn 25.hơi :

3-Ra mồ hôi và ho do chức năng của Tâm-Vị-Phế :

Về Phế, khi ăn ớt cay xuất mồ hôi, vì vị cay vào phế. Phế chủ da lông, hoặc đóng lỗ chân lông để giữ vệ khí không cho hàn khí do thời tiết lạnh xâm nhập, hoặc.mở lỗ chân lông để giải nhiệt khi cơ thể bị nhiệt do thức ăn nhiệt từ Vị. Như vậy cháu này do ăn không tiêu, thức ăn chuyển hóa chậm làm tăng men tiêu hóa tạo ra nồng độ cao trong bao tử về đêm khiến vị nhiệt.chuyền sang phế theo ngũ hành thổ nhiệt sinh kim nhiệt, hoặc do vận động mạnh nhịp tim nhanh tăng áp huyết do Tim làm tâm nhiệt, đi theo hai đường ngũ hành tương sinh làm vị nhiệt truyền sang phế mở lỗ chân lông, một đường theo ngũ hành tương khắc hỏa đốt phế kim sinh ho do phế táo khô, nên cần uống nước bù lại chỗ nước bị mất do thoát mồ hôi và làm cho phổi mát không bị khô sẽ hết ho.

Trường hợp những người đau đầu ở vùng trán là do chức năng bao tử hàn hay nhiệt, khi nhiệt mà nhịp tim đập nhanh thì trán xuất mồ hôi, sau đó nhịp tim trở lại bình thường, hết nhiệt thì hết xuất mồ hôi trán và hết đau đầu. Khác với trường hợp ra mồ hôi tay đầm đìa do chức năng gan-tâm-phế sẽ đề cập ở bài khác.

Áp huyết giả khi nhịp tim cao mà chân tay và người lạnh, trán lạnh.

Thân

doducngoc

Bài 439 : Phân tích áp huyết để biết cách chữa đúng hay sai.

Con kính Chào Thầy!

Con biết là con đã làm phiền Thầy và anh Hữu nhiểu nên con ngại lắm, nhưng Thầy vốn là người rộng lượng và giàu lòng nhân hậu nên Thầy không giận con đâu phải không Thầy?

1-Thời gian dài con uống Siro Bổ Hư Thang, huyết áp có lúc lên khá cao nhưng lại không ổn định, con đã được Thầy chỉ cho bài Khí Thủng và căn bản con đã hiểu rõ hơn tình trạng bệnh của mình, chỉ có điều thời gian tập khí công của con chưa được nhiều, con lại hay nóng vội.

2-Mặc dù đã áp dụng pp nhịn ăn 12 ngày nhưng không thu được kết quả như ý. Sau khi nhịn ăn xong ngày 14 con uống siro BHT huyết áp lên khá cao, sau đó 2 ngày con không uống thì HA xuống thấp, Sau đó con tiếp tục uống Bổ Hư Thang nhưng uống hoài không thấy HA lên.

Con đã được anh Hữu chỉ Thầy Liêu, gặp Thầy kê đơn và thông chân cho nhưng con vẫn chưa thấy khá hơn. Kể từ sau khi áp dụng PP nhịn ăn 12 ngày tới nay con uống liên tục 4 thang siro mỗi vị 32g, và 10 thang do Thầy Liêu kê đơn, nhưng HA vẫn thấp lắm Thầy ạ.

3-Con biết mình ăn không hấp thụ được nên có dùng thêm Bổ Trung Ích Khí Hoàn, dạng viên do cty dược phẩm TW3 sản xuất, nhưng công dụng của nó là dùng cho Tỳ Vị hư hàn, nhưng con là tỳ vị nhiệt, nên uống vào thì chỉ thấy nhịp tim cao hơn rất nhiều thui. và thuốc cấm dùng cho người bị cơn hen suyễn nên con không dùng nữa.

4-Mấy tháng nay con bị ho Đàm.... Bây giờ mỗi sáng ngủ dậy con tập Nạp khí Trung Tiêu và Kéo Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng con tập thở ra bằng mũi thì mũi ngạt và hắt xì hơi vài cái, sau đó xì ra là hết. Khi tập Vỗ Tay 4 Nhịp nhưng con tập sai vì không hát theo, con hay có đờm vướng họng phải khạc ra và ho vài cái mới hết. Đi làm thỉnh thoảng có đờm vướng họng phải hắng giọng và khạc ra.

5-Dạo gần đây con hay bị đau lưng đối diện với rốn, nhất là vào chu kỳ kinh thì đau lưng càng dữ dội hơn.... Con còn hay bị đau dưới vai nữa, dạo này con hay đi tiểu nữa... Bệnh tình con ngày một nhiều biến chứng.

6-Mắt con bị tèm nhèm như có màng vướng và nhiều gân máu quanh mắt, con biết con vừa thiếu máu, thiếu đường nuôi mắt, con đang bổ sung đường. Tìm hiểu những bài viết thầy trả lời con biết con thuộc chứng "Âm hư sinh nội nhiệt"...Con vẫn xông mắt với cúc hoa và 1 tuần ăn 3 buổi chè bổ máu: đậu đỏ, táo đỏ, 50g gạo nếp, đường đỏ, 50g đậu phộng.

7-Trong người cái gì cũng nhiệt....Có lẽ bệnh con thuộc chứng Khí và huyết đều hư, thiếu máu, nhịp tim nhanh.

8-Cách chữa theo ngũ hành Đông y, con thận và phổi đều yếu, trong khi đó Bổ Trung Ích Khí trị tỳ vỵ hư hàn, con thấy không hợp để uống. Con muốn hỏi Thầy là giờ con uống thuốc bổ phổi, phổi mạnh sẽ đủ năng lượng nuôi con là Thận.

Thầy ơi! ở VN không có thuốc Bách Hợp cổ kim Hoàn, con có vao link của Thầy qua trang thầy Nguyễn Hữu Toàn, con gửi mail hỏi họ thì phòng tư vấn có chỉ con dùng PHẾ THẬN HOÀN. Với công thức Đông trùng hạ Thảo, nhân sâm,tắc kè núi...Với công dụng : đại bổ phế thận, chữa cơ thể suy yếu, ho hen, viêm đường hô hấp, mệt mỏi hay bị cảm mạo,dị ứng, đau lưng. Con uống siro bổ hư thang và Phế Thận Hoàn có kỵ nhau không Thầy?.

9-Cơ thể con thì hoàn toàn khỏe mạnh, ăn được, về đêm nhiều biến chứng con lo lắm, ho đàm lâu quá con lo lắng và chân con chưa khỏi hẳn tê thui Thầy ạ.

Huyết áp con đo ngày 25/2/2012. Con Ng.yễn T. H. năm nay 27 tuổi.

Sáng trước ăn:

tt:111/69/82,tp:113/65/77
Chân Trái:126/72/82,Chân Phải: 121/69/78.

HA con đo 15h chiều:

TT:112/72/83,Tp:115/69/82
Chân trái: 129/83/83,Chân phải:132/75/84

Triệu chứng tê, nhức ở đầu ngón chân vẫn chưa khỏi, con thấy rõ nhịp đập ở chân trái, ngứa ngoài da thịt, nhức về đêm làm con lo lắng, hơn nữa tay trái con cũng tê tê, nhức ở đầu ngón tay, khi để thả lỏng ở trạng thái tự nhiên nghe rõ từng nhip đập, rung rung, và nhức đầu ngón tay, cảm giác tê tê lan rộng ở cánh tay đôi lúc ngứa ngoài da thịt. Bây giờ con ko biết bệnh con tên là gì nữa Thầy ơi. Con sợ lắm.

10-Hôm qua con đi ăn cỗ nhiều chất về mặc dù ăn không nhiều nhưng tối về da thịt ở bắp tay và bắp chân ngứa, nhức ở đầu ngón chân và ngón tay, con để ý thấy có mấy nốt dị ứng to như nổi mề đay ở bên bắp tay trái, các khớp ngón tay đau, khi bẻ kêu không ròn nữa, con thấy các đốt tay to hơn, bằng chứng là cái nhẫn con đeo mọi khi tháo ra rất dễ nhưng hôm nay cho sữa rửa mặt vẫn không tháo ra được.... Con sợ quá lẽ nào bệnh con là bệnh Gout phải không Thầy? Mà con biết bệnh này là bệnh của người giàu mà, còn con rất nghèo, lẽ nào.....? Con sợ lắm.

Sáng 26/3 ngủ dậy con đo HA:

TT:104/63/81,TP:109/67/83
Chân trái: 122/71/86.Chân phải: 121/65/89

Con đang cố gắng dành nhiều thời gian hơn để tập khí công, siro BHT con vẫn còn 7 thang nữa......

Con rất mong được Thầy chỉ dạy thêm, vì với con bây giờ không gì đáng quí hơn sức khỏe, con đã biết tự thương lấy chính mình, cố gắng tu tâm dưỡng tính để sớm gặp được những điều kỳ diệu từ cuộc sống.

Biết Thầy bận rộn mà con làm phiền hoài, mong thầy rộng lượng bỏ qua vì con còn thiếu hiểu biết và nóng vội... Con chờ sự chỉ dạy của Thầy.

Kính chúc Thầy luôn khỏe mạnh,để mang thật nhiều phép màu nhiệm đến với những người đang tuyệt vọng với nỗi đau bệnh tật, Thầy nhé!

Cảm ơn Thầy ngàn vạn lần!

Con:Hương Cái Bang....

Trả lời :

Tôi chia câu hỏi thành 10 đoạn để phân tích đúng sai trong điều trị.

1-Thuốc Bổ Hư Thang là thuốc bổ máu làm tăng áp huyết, nên muốn biết thuốc có chữa đúng bệnh không, cần phải đo áp huyết trước khi uống và sau khi uống trong 1 ngày để so sánh thuốc có làm chuyển hóa thay đổi khí huyết trong người không so với áp huyết tiêu chuẩn tuổi 27 :

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

Nếu áp huyết tăng so với trước khi uống là thuốc chữa đúng bệnh.

Nhưng để ý áp huyết tăng bên gan nhiều hay bên bao tử nhiều. Nếu tăng bên gan nhiều chứng tỏ gan đã thiếu máu, tăng bên bao tử nhiều chứng tỏ chức năng bao tử được phục hồi.

Nếu nó không tăng bên bao tử, chứng tỏ chức năng bao tử không làm việc hấp thụ và chuyển hóa. Còn bên bao tử tăng, bên gan không tăng, chứng tỏ bao tử đã chuyển hóa đưa chất bổ máu sang gan, nhưng gan thiếu oxy để chuyển hóa chất bổ thành máu, thì can khí hư. Khi can khí và can huyết hư các ống dẫn máu và các sợI thần kinh bị teo co rút làm tắc tuần hoàn máu gây đau.

Như vậy là Bổ Hư Thang là bổ máu mà không tập cho cơ thể tăng khí đủ oxy để bảo quản giữ lượng máu không bị tiêu hủy để trở thành dư chất sắt.

2-Khi cơ thể thiếu máu, áp huyết dưới 105 thì không được áp dụng phương pháp nhịn ăn làm áp huyết sẽ xuống dưới 100, do đó khi cơ thể cần máu để phục hồi lại tình trạng cũ, vì thế uống Bổ Hư Thang áp huyết chỉ lên như cũ 105, nguyên nhân cơ thể không tập để tăng oxy làm tăng tính hấp thụ và chuyển hóa. Do đo áp huyết vẫn không tăng mặc dù vẫn uống, nhưng đối với chức năng của bao tử yếu không chuyển hóa được nữa..

3-Không tập bài Kéo Ép Gối trước và sau bữa ăn để kích thích chức năng gan, bao tử tăng tính hấp thụ và chuyển hóa, và không tập tiếp theo bài Nạp Khí Trung Tiêu rồi ngậm miệng giữ khí để tạo sóng nhồi ở bụng giúp chuyển hóa thức ăn, thuốc uống, nên chức năng Tỳ Vị bị hư, thì dù có uống đúng thuốc cũng không có công hiệu, bao tử chỉ như một cái thùng rác đựng những thứ vất đi, cơ thể không hấp thụ được chất bổ nào từ thuốc và thức ăn, nên càng uống nhiều thuốc càng trở thành nhiều độc tố trong máu tạo ra nội nhiệt, cũng do không có khí lực loạI bỏ độc tố, nên từ chứng tỳ vị hư hàn trở thành hư nhiệt.

Công dụng của thuốc Bổ Trung Ích Khí Hoàn đùng là giúp bao tử tăng nhiệt chữa bao tử hàn. Cỏn Bổ Hư Thang có vị thuốc Quế mạnh hơn công dụng của Bổ Trung Ích Khí cũng kích thích tăng nhiệt làm nhuyễn thức ăn trong bao tử để biến thức ăn thành máu, nhưng nó cần khí, giống như xe chuyên chở vận chuyển dưỡng trấp đi xuống ruột non thấm qua màng ruột non theo mao quản li ti cùng với máu đen lên xoang phổi nhận oxy biến thành máu đỏ vào tim bơm máu tuần hoàn rồi về thận lọc máu sạch đưa về kho dự trữ là gan, rồi gan lại cung cấp máu cho tim bơm đi nuôi các tế bào toàn cơ thể.

Môn KCYĐ dùng để chữa bệnh có ưu điểm tạo ra khí, dùng khí để chuyển, giống như sẵn sàng có nhiều xe để vận chuyện đi bất kỳ đâu dù xa dù gần, nhưng không có chất gì để mà chuyên chở thì cũng chịu thua, nghĩa là cơ thể không có huyết để khí đẩy huyết lưu thông. Trường hợp này ngược lại có Bổ Hư Thang giúp thức ăn hóa thành máu, nhưng cứ nằm ì trong bao tử như một túi rác không có khí làm việc nhồi bóp rồi vận chuyển đi.

Khi áp huyết thấp là thiếu máu, các chức năng tạng phủ yếu, bao tử hư hàn, thức ăn biến thành đàm, uống Bổ Hư Thang có quế chứa lâu trong bao tử thành tích lũy nhiệt.

Khi chữa bệnh phải đúng thời điểm đông y gọi là đối chúng lâm sàng, khi bắt mạch thấy bao tử hàn, thì đo áp huyết thấy áp huyết thấp, nhịp tim thấp, lúc đó uống Bổ Hư Thang vừa bổ máu, vừa tăng nhiệ, đo áp huyết thấy nhịp tim tăng hơn tiêu chuẩn thì bao tử trở thành nhiệt, nhưng áp huyết không tăng do cơ thể không có khí chuyển đi.

Thông thường khi bao tử nhiệt, muống làm mất nhiệt thì mẹ thực tả con, là tả đại trường bằng cách dùng Phan Tả Diệp, với điều kiện áp huyết bình thường, hay áp huyết cao, còn áp huyết thấp, đông y cho dùng thuốc mát để xổ thì làm áp huyết tụt thấp thêm, trường hợp này không chữa bằng thuốc đông y được, mà chỉ chữa bằng khí là bài tập Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng đúng lúc là sau khi ăn 30 phút.

Đo áp huyết bên tay trái nhịp mạch thấp hơn 70 là hàn, nhịp mạch cao hơn 80 là nhiệt. Trường hợp không có máy đo áp huyết chúng ta vẫn có thể biết bao tử hàn hay nhiệt, nếu sau khi Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 100-200 lần mà trán xuất mồ hôi, thì chính bài này đã tả nhiệt trong bao tử, còn sau khi tập 100 lần, trán không xuất mồ hôi là bao tử hàn, phải tập thêm đến 200 trán mới xuất mồ hôi đối với người bao tử hàn mà áp huyết bình thường, còn áp huyết thấp không được tập 200 lần ngay một lúc, khiến áp huyết và đường tụt thấp hơn.

Như vậy chính bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng vừa chữa được bao tử hàn, bao tử nhiệt hay hơn dùng thuốc đông tây y.

4-Nguyên nhân tạo đàm :

Khi tỳ hư thì phế hư, tỳ hư hàn phế hư hàn, khi thức ăn trong bao tử không tiêu thức ăn không biến thành dưỡng trấp chuyển thành máu mà trở thành đàm trong xoang phổi, phế hư hàn làm nghẹt mũi do đàm, còn thức ăn chứa lâu trong bao tử bị lên mem tăng nồng độ acid trong bao tử thành nhiệt khiến nhịp tim tăng cao.

Thức ăn, thuốc uống trong ngày để đến sáng hôm sau, mỗI sáng mớI tập khí công thì thức ăn đó chứa lâu trong bao tử đã biến thành đàm và tích nhiệt trong bao tử sẽ trở thành bao tử thồi, hậu qủa loét bao tử hay ung thư bao tử khi cơ thể thiếu máu trầm trọng có số đo áp huyết dưới 90.

Nguyên tắc của KCYD ngay khi ăn uống sau 30 phút phải tập 2 bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng và Nạp Khí Trung Tiêu Ngay, giống như sau khi dọn cơm ra bàn ăn, ăn xong dọn dẹp bàn ghế mâm chén liền, chứ không đợi đến sáng mai mới dọn, có nghĩa là chữa bệnh đã không theo luật đối chứng lâm sàng, chữa đúng lúc cần, đúng lúc đang bệnh..

Khi Phế hư hàn thì con là Thận không được nuôi dưỡng lại bị mẹ truyền bệnh cũng trở thành hư.

Bệnh biến chứng từ gan hư không được mẹ là thận nuôi, thận hư không được phế nuôi, phế hư không được tỳ vị nuôi, tỳ vị hư không được tâm nuôi, tâm hư không được gan nuôi, như vậy 5 hành đều hư, xem bài (438)Tứ Tổ Quy Gia là phục hồi chức năng Tỳ Vị.

5-Đau lưng ngang với rốn khi có kinh là vừa đau thận, vừa bao tử và ruột. Cơ thể đã thiếu máu, lại bị mất thêm máu khi ra kinh khiến áp huyết thấp thêm là dấu hiệu báo trước khi áp huyết tụt xuống dưới 90 là dấu hiệu tiền ung thư, khi áp huyết xuống 80 tây y sẽ khám ra được ung thư. Có hai trường hợp xẩy ra, nếu đến kỳ kinh không ra máu hay ra ít thì sẽ ung thư tử cung, còn kinh vẫn ra thì 3 tạng can, tỳ, thận phải cung cấp máu giúp điều kinh thì tử cung không có vấn đề nhưng chức năng 3 tạng này suy yếu dần. Gan hư thì các dây thần kinh dẫn máu co rút nên đau gân cơ, đau cổ gáy, vai, tay, lưng, cột sống, gan hư do thận hư, thận hư thì đi tiểu đêm, đau lưng, xương xốp, rụng tóc, răng hư, mất trí nhớ.

6-Mắt tèm nhèm, can khai khiếu ra mắt dẫn khí và huyết lên nuôi mắt, nguyên nhân do can khí can huyết đều hư. Xông mắt là chữa ngọn, ăn chè bổ máu cũng bằng thừa vì Bổ Hư Thang còn dư trong bao tử chưa chuyển hóa vì thiếu tập đúng lúc đúng thời.

7-Trong người cái gì cũng nhiệt...

Tại sao phải đoán mò khi đã có máy đo áp huyết. Đã biết khí huyết đều hư, đã dùng Bổ Hư Thang để bổ huyết mà không tập luyện để bổ khí. Đã biết âm hư nội nhiệt mà không biết cách tập để mất nội nhiệt ?

8-Bách Hợp Cố Kim Hoàn hay Phế Thận Hoàn cũng đều là chữa ngọn bệnh là chữa phế thận, trong khi bệnh chính là ở bao tử không hấp thụ chuyển hóa làm cho 5 hành đều hư, phải chữa gốc trung tiêu Tứ Tổ Quy Gia để điều chỉnh lại cả 5 chức năng tạng phủ của 5 hành.

9-Cơ thể con hoàn toàn khỏe mạnh thì tại sao lại sợ biến chứng về đêm ? Ho đàm lâu chưa khỏi, chân còn tê tại sao ? Nhìn vào số đo áp huyết đã thấy có gì sai chưa ?

Sáng trước ăn:

tt:111/69/82,tp:113/65/77
Chân Trái:126/72/82,Chân Phải: 121/69/78.

HA con đo 15h chiều:

TT:112/72/83,Tp:115/69/82
Chân trái: 129/83/83,Chân phải:132/75/84

Nhìn kết qủa số đo áp huyết thì không thấy được chức năng hấp thụ và chuyển hóa của gan và bao tử vì không có số đo sau khi tập 30 phút sau khi ăn, mà chỉ có số đo sáng trước khi ăn và số đo vào lúc 15 giờ cũng không phải là lúc ăn bữa chiều, do đó mà không tìm ra được nguyên nhân ho đàm lâu và đau chân chưa khỏi.

10-Đi ăn cỗ về bị dị ứng ngứa, đau nhức, sưng phù... áp huyết đo được :

Sáng 26/3 ngủ dậy con đo HA:

TT:104/63/81,TP:109/67/83
Chân trái: 122/71/86.Chân phải: 121/65/89

Kềt luận : Áp huyết vẫn thấp do thiếu khí, huyết không thiếu mà ứ huyết nhiệt do nhịp tim hơi nhanh, trở thành máu có nhiều độc tố chứa trong gan mới bị dị ứng, nếu không có khí vận chuyển huyết thì huyết sẽ hóa vôi, lúc đó đau nhức nhiều hơn, huyết tích tụ ở các khớp ngón bị khô trở thành huyết hóa vôi hay mưng mủ, tây y thì gọi là bệnh gút, thấp khớp, thoái hóa khớp.

Cách chữa :

Sau mỗi bữa ăn 30 phút tập Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng 100 lần rồi Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần, Bữa ăn nào tập ngay sau bữa ăn đó. Trong ngày tập 8 lần Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực 100 lần, sau khi tập ngậm miệng giữ khí, áp huyết sẽ tăng lên, lúc đó vẫn dùng Bổ Hư Thang cho đến khi áp huyết ổn định.

Thân

doducngoc

Bài 438 : Tứ Tổ Quy Gia chữa 5 tạng đều hư.

Thưa thầy!

Con hiện đang sống tại Đức con mắc rất nhiều chứng bệnh như đi tiểu rất nhiều lần trong ngày càng ngồi lâu thì nước tiểu vẫn ra, bệnh nữa là Hepatitis B cách đây 10 năm phát hiện khi con có thai, sau này con vẫn đến bác sĩ khám dịnh kỳ nhưng bác si nói không có vấn đề gì và cũng chưa bao giờ dùng thuốc để trị bệnh, vì 2 năm gần đây con thường xuyên mắt bị ngứa kèm theo như gầu ở dưới chân mi mắt, sưng mọng. Con đi khám nhiều lần bác sĩ mắt nhưng cũng chẳng giúp gì được mà bệnh thì cứ mỗi ngày làm con không còn tinh thần để làm gì và đi đâu. Thầy ơi, giúp con chỉ dẫn con phải làm gì để chữa những căn bệnh trên ,con cám ơn thầy!

hong_do_thi@yahoo.de (Đức Quốc)

Trả lời :

A-Nguyên nhân :

Theo đông y, gan khai khiếu ra mắt, gan nhiễm Hepatitis B, như vậy là máu chứa trong gan cũng đã bị độc, làm hư hại khiến mắt nóng nhiệt, đông y gọi là âm hư nội nhiệt. Biến chứng của bệnh gan thuộc mộc sẽ truyền bệnh cho con là tim theo ngũ hành tương sinh, và theo ngũ hành tương khắc là mộc khắc thổ hại chức năng tỳ vị, làm tỳ vị nhiệt. Khi tỳ nhiệt làm sưng mí mắt, khi vị nhiệt làm khô cổ họng.

Theo dấu hiệu bệnh ở trên tỳ vị cũng đã bị truyền bệnh, khi chữa chưa xong bệnh gan, bệnh tim, bệnh tỳ vị, thì bệnh lại truyền kinh sang khiến phổi khô nhiệt, khó thở, ho khan không đàm, phổi khai khiếu ra da, phổi tốt thì da tươi nhuận, chức năng phổi hư kém làm da khô nhăn, cũng đã có dấu hiệu bệnh, và khi phế bệnh truyền kinh làm thận bị bệnh đi tiểu nhiều lần do chức năng thận hư.

Trong ngũ hành 5 tạng tim, gan, tỳ, phế, thận, đã có dấu hiệu đủ 5 tạng đủ 5 hành mộc, hỏa, thổ, kim, thủy. Như vậy không thể chữa ngọn theo tây y là chữa từng dấu hiệu bệnh, vì thuốc chữa bệnh này lại hại đến chức năng của các cơ quan tạng phủ khác. Còn theo thuốc đông y điều chỉnh cả 5 hành bệnh rất khó và rất lâu cũng không đạt được kết qủa.

Theo khí công y đạo, mỗi tạng là một hành mang một mầu sắc tượng trưng, như phế thuộc kim mầu trắng, gọi là Bạch Tổ, tỳ vị thuộc thổ, mầu vàng, gọi là Hoàng Tổ, như gan thuộc mộc mầu xanh, gọi là Thanh Tổ, như tim thuộc hỏa mầu đỏ, gọi là Xích Tổ, như thận thuộc thủy, mầu đen gọi là Hắc Tổ. 4 tổ trấn 4 góc Nam-Bắc là Tâm-Thận, Đông-Tây là Gan-Phế, trung ương là Tỳ Vị thổ mầu vàng gọi là Hoàng Tổ.

Khi chức năng các hành xáo trộn vì bệnh, phương pháp điều chỉnh phải là dùng phương pháp "Tứ Tổ Quy Gia", cả 4 tổ đều trở về trung ương hội tụ, trở về điểm không, lúc đó mới hết sự xung khắc ngũ hành. Đo đó, phải điều chỉnh lại chức năng hoạt động của hành thổ là tỳ vị, nhờ chức năng của tỳ vị để điều chỉnh lại chức năng của 4 tạng phủ can, phế, tâm, thận.

B-Cách điều chỉnh Tinh-Khí-Thần :

Tinh :

1-Ra tiệm thuốc bắc mua thuốc Kiện Tỳ Hoàn (Jian Pi wan) : Trị tỳ khí hư nhược ăn uống không hấp thụ, không tiêu, biếng ăn. Ngậm dưới lưỡi 20 viên trước mỗi bữa ăn 30 phút để kích thích ăn ngon, hấp thụ chất bổ của thức ăn, và tiêu hóa tốt.

2-Tối thứ 2,4,6 uống 3 viên Phan Tả Diệp (Senna Laxatif) có bán ở tiệm thuốc tây, nếu không có thì ra tiệm thuốc bắc mua 1 gói Phan Tả Diệp (giống như lá me), mỗi tối lấy 1 thìa lớn lá Phan Tả Diệp bỏ vào ấm nấu sôi như nấu trà, cạn còn 1 ly, uống vào buổi tối, để tẩy lọc máu độc trong gan, ngày hôm sau sẽ đi cầu ra phân đen, xanh. Tối thứ 3,5,7 thì uống 3 viên Ngũ Vị Tử có bán ở tiệm thuốc bắc dưới tên thương mại Fu Fang Wu Wei Zi Capsule giúp tăng thể lực. Phối hợp hai loại này để chữa bệnh gan.

3-Cần đo áp huyết ở hai tay trước và sau khi ăn 30 phút, lấy cả 3 số tâm thu, tâm trương, nhịp tim, so với áp huyết tiêu chuẩn của khí công dưới đây :

90-95 (1 tuổi đến 5 tuổi) mạch nhanh không chính xác.

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.(6 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi-17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Nếu áp huyết thấp thì mỗi sáng uống thuốc bổ ống nước B12 mua ở tiệm thuốc tây, để bồi bổ thêm máu cho đến khi áp huyết lên đúng tiêu chuẩn thì các bệnh sẽ khỏi.

4-Mua 1 gói Hoa Cúc khô ở tiệm thuốc bắc, dùng 10-20 hoa, nấu với 1 lít nước, cạn còn 1/2 lít, đổ ra 2 ly (đầy 2/3 ly) ngồi xông 2 mắt 30 phút, khi nước nguội, dùng xác hoa đắp lên 2 mắt lúc nằm ngửa 10 phút, sau lấy nước trong ly để rửa mắt làm mát mắt, hạ nhiệt, sáng mắt, mất tia máu đỏ trong mắt. Không được uống, vì Hoa Cúc mát làm hạ áp huyết và đi tiểu nhiều.

Khí :

1-Tập bài Nạp Khí Trung Tiêu 5 lần và Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, rồi lại tập Nạp Khí Trung Tiêu thêm 5 lần nữa sau khi ăn 30 phút để giúp bao tử co bóp làm nhuyễn thức ăn, để tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn thành chất bổ, và làm mạnh chức năng thận để chữa bệnh đi tiểu nhiều.

2-Sau đó tập toàn bài khí công để tăng cường thể lực vào mỗi sáng và tối.

Thần :

Trước khi đi ngủ tập thở thiền đưa khí từ Đan Điền Thần xuống Đan Điền Tinh, nữ bàn tay phải đặt trên mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, bàn tay trái đặt đặt dưới rốn khoảng 5cm nơi Đan Điền Tinh. Cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi tự nhiên như em bé ngỷ, chỉ cần để ý theo dõi những gì đang chuyển động trong bụng như có cảm giác bụng mền, sôi, khí chạy, nước chạy lọc ọc, bụng và tay ấm nóng..là tập đúng.

Thân

doducngoc

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2012

Bài 437 : Phân tích một câu hỏi bệnh về Tinh-Khí-Thần đúng hay sai theo số đo áp huyết

Kinh thăm Thầy,
1-Thầy ơi, sáng nay đi xét nghiệm máu.
Em so sánh về hồng cầu và bạch cầu thấy có: tờ giấy xét nghiệm ngày 10 tháng 11 năm 2010:
bạch cầu:  [gb. wbc] 4. 90 10g/1{4 - 10}
hồng cầu:  [gr, gbc] 4. 64 10/12/1 {H 5. 5+ - 1}

Tờ giấy xét nghiệm ngày 5 tháng 4 năm 2011:
bạch cầu [gb. wbc] 12. 90 10g/1{4 - 10}
hồng cầu:  [gr, gbc] 4. 54 10/12/1 {H 5. 5+ - 1}
Thưa Thầy em không biết tại sao bạch cầu tăng nhiều vậy?

2-Em kéo gối ngày 2000 cái. vỗ tay 4 nhịp 200 cái cúi ngửa 20 cái vỗ
tâm thận 30 cái, hát kéo gối 200 cái.
Bữa nay em tập thở cách: hít vào thở ra 100 cái và 100 cái ra Mênh Môn.
Từ bữa nhận được thư trà lời của Thầy ăn xong nửa tiếng em kéo gối 500 cái, bản thân không tăng cân những kí lô chưa hạ.

3-Ruột khó chịu, nó có bị loét không Thấy? Thầy, cách nào tập cho bạch cầu giảm và cách tập cho giảm cân Thầy chỉ cho em, em không biết đánh máy nên xin Thấy thông cảm.

4-Thầy chỉ cho em ăn xong 30 phút thì kéo gối. em làm 300 lần kéo gối và nạp khí trung tiêu 5 lần mỗi lần 1phút, đúng như Thầy nói: cân
không lên nữa, nhưng ba tháng qua, ngày hôm qua em đi thử máu thì mỡ  tăng lên: 6, 71 ba tháng trước là 5. 57. Thưa Thầy hàng ngày em tập như thế nào cho mỡ hạ xuống xin Thầy giúp em. Hiện giờ em đang uống thuốc bổ gan thận còn tuần trước em uống thuốc trị bướu ổ bụng Thầy chỉ trên video của Thầy.

5-Sáng nay thức dậy em đo,
tay trái :156/105/76, tay phải :130 /96 /67 .
Trước khi ăn sáng đo :
Tay trái : 126 /81 /73 , tay phải : 120 /83 /74 .
-Sau khi ăn sáng 30 phút đo :
Tay trái :118 /77 /80 ,  tay phải :115 /80 /83 .
-Trước khi ăn trưa đo:
Tay trái : 117 /74 /80 , tay phải :117 /76 /78
-Sau khi ăn trưa 30 phút do :
Tay trái :115 /70 /85 , tay phải :116 /76 /86 .
-Trước khi ăn tối đo :
Tay trái :129 /85 /79 , tay phải :134 /97 /78
-Sau khi ăn tối 30 phút do :
Tay trái :130 /85 /81, tay phải :134 /92 /78 .

6-Thưa Thầy đó là số đo em đo trong một ngày. Em xin gởi Thầy, trước khi uống hai thứ thuốc trên, em đã uống Phan tả Diệp 2 tuần, uống như uống trà. thuốc bổ gan thận em uống 20 thang rồi còn 4 thang nữa. tối em tập các bài Thầy dặn và uống trước khi đi ngủ.

7-Em năm nay 54 tuổi, nặng 62 kg vậy là em dư12kg hiện giờ cổ gáy vẫn mỏi và nửa bên phải mỏi hơn bên trái. Thầy ơi phần động công thể ngồi xuống trên gót chân em làm 10 lần là mệt phải chuyển qua thế khác sau đó quay lại làm 10 lần nữa. Tại sao thế đó em không làm liên tiếp 20 lần như Thầy được.

8-Còn phần thở: em tập thở lư đảnh, thu âm thu dương, thở tỉnh hóa khí 50 lần và khí hoá thần 50 lần và thở vòng chân khí 36 vòng, nhưng em thở 1 tuần thì tìm đập chậm lại. Ngủ dậy có khi tim xuống còn 43 và có bữa chỉ còn 38, em không dám thở nữa và ngừng cả tuần rồi Thầy, em không biết tại sao?

Xin Thầy giúp em, trong khi chờ thư Thầy em viết thêm những điều em chưa biết. Em xin cảm ơn Thầy và chờ thư của Thầy. Em xin cảm ơn Thầy đã và đang giúp em.

Trả lời :

Câu hỏi được chia làm 8 phần để phân tích tìm hiểu đúng sai :

1-Hồng cầu, bạch cầu :
6 tháng sau thử máu lại thì bạch cầu tăng, hồng cầu giảm là trong máu có bệnh, theo KCYĐ nguyên nhân do thiếu oxy làm giảm hồng cầu, do ăn uống sai lầm, thức ăn có những độc tố làm cơ thể tăng bạch cầu để phòng chống bệnh tật.

2-Tập bài Kéo Ép Gối sai nên không xuống cân mà khí chứa trong bụng càng to, nếu tập đúng thì bài này mục đích thổi hơi trong bụng ra cho xẹp lép mềm lại, và ép gối cho khí trong bụng ra hết, như vậy ép cả thức ăn trong bao tử được nhuyễn nhừ thành nước chảy xuống ruột, thấm qua ruột non gọi là dưỡng trấp theo mao quản li ti lên phổi nhận oxy biến thành máu đỏ, còn cặn bã thức ăn bị bài ép gối đẩy xuống ruột già thành phân bị đẫy ra ngoài, nên được nhuận trường, đi cầu dễ dàng mỗi ngày.

Như vậy bài kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng là ép thức ăn thành nước lỏng tạo chất bổ, cặn bã thành phân đẩy ra khỏi cơ thể, sau khi tập đúng thân nhiệt nóng, bụng mềm, lớp mỡ bụng tan chảy lỏng làm xuất mồ hôi, nước qua thận lọc thành nước tiểu, mỡ và cặn bã dư thừa bị loại bỏ ra khỏi cơ thể mỗi ngày, vòng bụng nhỏ lại, thì phải xuống cân. Ngược lại tập sai, là khi ép gối, thổi ra mà bụng phình căng lên giữ khí lại, bao tử vẫn căng đầy thức ăn không bị ép nhỏ lại, gan không bị ép nhỏ lại, nên thức ăn vẫn không được chuyển hóa, gan không tiết mật làm tan mỡ.
Phải đo áp huyết trước và sau khi tập 2000 lần, nếu áp huyết tăng là
tập sai, áp huyết giảm đường giảm là tập đúng.

Vỗ tay 4 Nhịp là điều chỉnh hơi thở và nhịp tim cho đều, bài Cúi Ngửa
4 Nhịp và Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực là làm hạ đường trong máu. Trước khi tập phải đo áp huyết và đo đường. Do tập sai nên không có kết qủa. Số lượng tập chính là liều lượng thuốc chữa bệnh.
Một người trước khi tập, đo đường sau khi ăn là 12mmol/l, tập 60 lần,
hai bàn tay phải đưa lên cao khỏi đầu, miệng phải hát, đầu gối phải co
lên cao ngang ngực, tập xong đo đường xuống được 3.0mmol/l thì đo lại đường trong máu còn 8.0mmol/l, nếu tập tiếp một lần nữa thì số lượng phài giảm bớt để cho đường trong máu lọt vào tiêu chuẩn bình thường từ 6.9-8.0mmol/l, nếu tập đủ 60 lần đường sẽ xuống còn 5.0mmol/l thì dưới tiêu chuẩn, cơ thể sẽ mệt và buồn ngủ, chỉ nên tập thêm 30 lần là đủ, nếu tập nhiều hơn đường xuống thấp dưới 4.0mmol/l sẽ ngã lăn đùng xuống sàn nhà, rơi vào hôn mê giống như người bị tai biến, nhưng chân tay mềm nhũn, xuất mồ hôi, mặt tái xanh...
Nếu tập đúng 200 lần chỉ dành cho người có bệnh đường trong máu cao mới không bị xỉu, còn người có đường thấp thì hay buồn ngủ, hay ngủ gục, mệt mỏi, cần phải uống 2 thìa đường rồi đo đường lên trong tiêu chuẩn 6.0-8.0mmol/l mới tập được bài này.
Như vậy tập 200 lần không đúng, nếu đúng thì đã mệt ngất xỉu vì đường trong máu xuống.

Bài tập Hít vào thở ra 100 lần là hòa vốn, không chữa bệnh gì, thở
Mệnh Môn  để duy trì áp huyết không tăng không giảm, không có mục đích giảm cân.

3-Ruột khó chịu, nó có bị loét không Thầy? Phải tự hỏi mình xem nguyên nhân tại sao loét, phải hội đủ điều kiện là những thứ chứa trong ruột ở lâu một chỗ không xê dịch và không thông thoáng không có khí đẩy co bóp, dư acid, dư nồng độ đường mới làm cho loét, như vậy thì tập bài Kéo Ép Gối Làm Mềm Bụng, có nghiã là làm mền gan, bao tử, ruột non, ruột già co bóp, do tập không đúng nên không đạt yêu cầu này rồi.
Còn cách nào tập cho bạch cầu giảm và cách tập cho giảm cân ? Tại sai bạch cầu tăng do chức năng ruột không hoạt động co bóp tốt do tập Kéo Ép Gối không đúng, nên chứa nhiều vi khuẩn làm tăng bạch cầu để kháng khuẩn.
Như vậy hỏi làm cách nào làm giảm bạch cầu và giảm cân thì chỉ cần tập đúng yêu cầu Kéo Ép Gối Thổi Hơi Ra Làm Mềm Bụng, thổi hơi cho khí trong gan, bao tử, ruột ra hết cho xẹp nhỏ lại thì áp huyết xuống, thức ăn, khí, huyết, nước dịch chất bị các cơ quan này co bóp nên chuyển động dời đổi, gọi là phân thanh hóa trọc, thanh thì tạo thành chất bổ máu, trọc thì đẩy ra theo phân, nước tiểu và mồ hôi.

4-Do tập bài Kéo Ép Gối sai ngay từ đầu là không dùng máy đo áp huyết và đo đường để biết mình tập đúng hay sai. Công dụng của bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng (bài A) làm hạ áp huyết, hạ nhiệt, tiêu mỡ làm nhỏ bụng, hạ đường, cholesterol. Bài Nạp Khí Trung Tiêu (bài B) làm tăng áp huyết, tăng thân nhiệt mạnh thận không đi tiểu đêm, nhưng cũng làm nhỏ bụng, nên hai bài này tập chung. Nếu áp huyết thấp, tập 3 lần liên tiếp bài B, bài A rồi lại bài B. Nếu áp huyết cao tập bài A, bài B rồi lại bài A., rồi đo lại áp huyết và đường.

Còn thuốc có tên là thuốc bổ gan thận làm tăng áp huyếr hay giảm áp
huyết, tăng đường hay giảm đường. Nếu nó không thích ứng với những điêu mình mong muốn là làm hạ áp huyết, giảm cân, thì thuốc đó không có gía trị đối với mình. Mình phải hỏi thầy đông y, tôi uống huốc này có giảm áp huyết không, có giảm cân không, nếu thầy nói chung chung không kliểm chứng thì đấy là cách nói mơ hồ của ngành đông y, do đó mà tây y thấy không đáng tin cậy. Nhưng nếu không dùng thuốc gì cả, chỉ cần hạ áp huyết, hạ đường, giảm cân thì KCYĐ chỉ cần tập đúng 2 bài này trong 3 tháng, và giảm ăn, sẽ đúng như ý mong muốn, mà không cần đến thuốc. KCYĐ chuyên về dùng khí chữa bệnh, chỉ trường hợp cơ thể suy nhược thiếu máu, mới cần bổ máu Bổ Hư Thang.

Thuốc chữa bướu trong ổ bụng khi ấn đè bụng có đụng phải những bướu cứng đau, uống thuốc này cho đến bao giờ ấn đè bụng không còn bướu nào thì ngưng, Uống thuốc tan bướu ổ bụng cùng lúc tập 2 bài trên thời gian khỏi bệnh nhanh hơn.

5-Phân tích số đo áp huyết :
Đây là bảng tiêu chuẩn áp huyết theo loại tuổi theo kinh nghiệm của
khí công y đạo :
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)
Áp huyết của bệnh nhân tuổi 54 phải ở trong khoảng :
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

a-Chúng ta phải thắc mắc tại sao sáng thức dậy, áp huyết tay trái cao
hơn tiêu chuẩn ở tâm thu và tâm trương 156/105/76, còn tay phải 130 /96 /67 tâm thu đúng tiêu chuẩn, nhưng nhịp tim thấp .
Đặt nghi vấn, có phải là van tim trái bị hở  (105) do van tim bị
cholesterol  nhiều hơn bên van tim bên phải (95) ?, còn nhịp tim mạch
bên phải thuộc gan bị hàn (67) ?

b-Trước khi ăn sáng đo :
Tay trái : 126 /81 /73 , tay phải : 120 /83 /74 .
Hai số tâm thu đúng tiêu chuẩn, nhịp tim đúng tiêu chuẩn, không hàn
không nhiệt, van tim đã thu hẹp, mặc dù chưa ăn sáng. Chúng ta phải
thắc mắc tại sao có sự khác biệt ?

c-Sau khi ăn sáng 30 phút đo :
Tay trái :118 /77 /80 ,  tay phải :115 /80 /83
Tại sao sau khi ăn sáng áp huyết cả hai tay lại thấp hơn tiêu chuẩn,
mà nhịp tim nhanh ?

d-Trước khi ăn trưa đo :
Tay trái : 117 /74 /80 , tay phải :117 /76 /78
-Sau khi ăn trưa 30 phút đo :
Tay trái :115 /70 /85 , tay phải :116 /76 /86 .
Chúng ta phải thắc mắc tại sao trước và sau khi ăn áp huyết tâm thu và tâm trương gần như không thay đổi, thấp hơn tiêu chuẩn, chỉ thay đổi nhịp mạch cao hơn ?

e-Trước khi ăn tối đo :
Tay trái :129 /85 /79 , tay phải :134 /97 /78
-Sau khi ăn tối 30 phút do :
Tay trái :130 /85 /81, tay phải :134 /92 /78 .
Trước và sau khi ăn áp huyết hai tay gần như không thay đổi, nhưng tay phải cao hơn tay trái và cao hơn tiêu chuẩn.

So sánh câu a với câu b, do ăn tối hôm trước nhiều, không vận động,
không tiêu, sáng dậy áp huyết cao do ăn nhiều chất hàn hạnh làm gan bị hàn. Khi dậy vận động đi lại thì áp huyết xuống thấp.
So sánh câu b với câu c, lại ăn những thức ăn làm hạ máu, hạ áp huyết.

So sánh câu c với câu d, gần như bữa ăn trưa chỉ uống nước hay ăn
cháo, hay chất súp lỏng nên áp huyết không thay đổi, chỉ làm cơ thể
tăng nhiệt nhịp nhanh hơn, sau khi ăn vẩn không tiêu do lười không tập để chuyển hóa, nên bao tử và gan phải tự tiết dịch chất để chuyển hóa chất bột hay súp của bữa ăn trưa, tại sao lại biết là chất bột không tiêu, vì tâm trương lại mở van tim lớn hơn từ 70 đến 76, mà đến chiều tối tâm trương lên từ 85 đến 97, nhịp mạch tay trái vẫn cao, trước và sau khi ăn tâm thu tay phải thuộc gan không thay đổi là chức năng gan hư.

Vì chức năng chuyển hóa của bao tử và gan không đồng bộ, đáng lẽ áp huyết bên gan phải cao trước khi ăn để giúp cho bao tử biết đói đòi
ăn, khi ăn xong thì chức năng gan nghỉ, áp huyết bên gan sẽ hạ xuống và áp huyết bao tử phải tăng cao hơn để bao tử hoạt động, ngược lại bao tử không làm việc trong bữa ăn tối, thì khi đêm ngủ, gan lại phải tiết dịch chất giúp bao tử làm việc, nên sau khi gan làm việc xong áp huyết của gan xuống lúc đó áp huyết của bao tử mới tăng, do đó đến sáng ngủ dậy, áp huyết tay phải trong tiêu chuẩn, còn áp huyết bao tử tăng cao...
Đó là chu kỳ áp huyết 1 ngày.

Kết luận: Tinh là chất ăn uống thuốc men làm xáo trộn chức năng tiêu
hóa, hấp thụ và chuyển hóa, làm Can vị bất hòa.
Đối với cách chữa bệnh của môn Khí Công Y Đạo chú trọng cả 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần.
Về những thức ăn đúng thì có kết qủa 15%, về thuốc uống đúng yêu cầu mà bệnh cần, kết qủa 15%, cả hai thuộc cách điều chỉnh Tinh là 30%.
Về Khí tập đúng bài cho đúng bệnh, kết qủa 30%.
Về Thần là tập thở thiền đúng theo nhu cầu cơ thể cần, kết qủa 40%.

6-Uống Phan Tả Diệp làm hạ áp huyết là sai. Trường hợp áp huyết thấp, muốn đi cầu được, cần tập sau mỗi bữa ăn 30 phút bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần.
Uống thuốc bổ gan thận là sai, uống càng nhiều (40 thang) càng sai, bổ gan thì áp huyết tăng cao vì gan mộc là mẹ của tâm hỏa, bổ thận thủy lại khắc hỏa làm áp huyết tụt thấp, do đó áp huyết không ổn định.

7-Hiện giờ cổ gáy vẫn mỏi và nửa bên phải mỏi hơn bên trái.
Phải tập những bài liên quan đến cổ gáy là 7 bài đầu chỉnh thần kinh,
bài Vỗ Tay 4 Nhịp, bài Vỗ Tâm Thận, Cúi Ngửa 2 Nhịp, 4 Nhịp, Vặn Mình 2 Nhịp, 4 Nhịp, QuayVặn Khớp Vai. Chuyên tập những bài này trong 1 giờ làm cho cổ gáy vai xuất mồ hôi mới có kết qủa.
Vì uống nước nhiều, ăn nhiều, bụng to chèn động mạch háng, nước trong đầu gối làm sưng gối, nếu đo áp huyết ở chân thì số thứ hai lớn hơn tiêu chuẩn nên các tĩnh mạch chân bị phìng tĩnh mạch, máu bị tụ lại ở mắt cá, do đó không tập được bài Dịch Cân Kinh 4 Nhịp. Cần phải tập bài Dậm Chân Phía Trước Phía Sau/Chachacha xong mới tập Dịch Cân Kinh 4 Nhịp, thì sẽ ngồi xuống được.

8-Còn phần thở: em tập thở lư đảnh, thu âm thu dương, thở tỉnh hóa khí 50 lần và khí hoá thần 50 lần và thở vòng chân khí 36 vòng, nhưng em thở 1 tuần thì tìm đập chậm lại. Ngủ dậy có khi tim xuống còn 43 và có bữa chỉ còn 38, em không dám thở nữa và ngừng cả tuần rồi Thầy, em không biết tại sao?
Các thầy KCYĐ chú ý đến những bài tập thở này để chữa cho những người có nhịp tim đập nhanh có kết qủa. Đây là bài luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần làm giảm tần số sóng não được ở trạng thái thư giãn nghỉ ngơi.
Còn riêng trường hợp bệnh này, bệnh nhân chỉ muốn giảm cân, chữa đau nhức mỏi, thì bài này không đúng mục đích, chưa cần thiết để tập.

Thân
doducngoc

Bài 436 : Phân tích những sai lầm của đông tây y dẫn đến bệnh tai biến.

Kính gửi thầy: Đỗ Đức Ngọc!

Con xin thầy bắt bệnh và có lời khuyên cho con:
1-Vừa qua,vào lúc 11h đêm con bị nôn khan, một nửa người bên trái, mặt thấy mát mát, tay trái và chân khi con  nằm nghiêng lúc trở mình thấy nặng nặng chân tay. Con hoảng quá gọi điện cho bác sỹ đến khám và nói tai biến nhẹ, lúc ấy huyết áp của con 150/85 /98 hay 100 và con đang bị sốt  38 đến 39 độ viêm phế quản.

2-Trước khi con bị sốt và viêm phế quản con đang bình thường vì con
muốn chữa thoái  hóa khớp gối, lưng, cổ, nên con đã đến thầy thuốc
đông y để châm mồi ngải ,con đã làm từ sáng thứ 2-sáng thứ 7 đến tối thứ 7 đó con bị như thầy thuốc đông y đến khám thì bảo là bị trúng gió ạ!, nếu thầy thuốc đông y đến muộn một chút thì  người nhà đã cho con uống  An Cung Ngưu Hoàng rồi ạ!  Hai hôm sau  con đi chụp xi ti não thì không bị sao cả. Vì con uống kháng sinh không đỡ viêm phế quản (thuốc Zinat) mà vẫn sốt cao 38-39 độ, còn nổi hạch ở bên tai trái chạy ngang đến họng làm khó thở .

3-Con vào cấp cứu ở bệnh viện, siêu âm thấy có huyết khối ở tĩnh mạch dưới đòn vai trái B/S nói là đã bị đóng bánh, còn bị tràn dịch màng phổi nhẹ .Nằm 12 ngày ở phòng cc .Con phải làm xiti tất cả nội tạng và xét nghệm u bướu cũng không thấy gì.

4-B/S hỏi có tiêm truyền gì không? Con nhớ ra 2 tháng trước có đi tiêm thuốc chống thoái hóa vào khớp vai trái và bị dị ứng thuốc. Lúc trước khi tiêm có thử phản ứng rồi không sao, tiêm xong còn nằm lại 15 phút.
Khi về đến nhà con thấy mặt đỏ tai bị tím bầm, con gọi điện hỏi lại
G/Sư  cho con tiêm thuốc bác ấy bảo không sao cứ nghỉ ngơi là hêt.Con ngủ thiếp đến 6h tối mới dậy được.

5-Hiện nay con ra viện được Kết Luận : Nhiễm trùng do tiêm,huyết khối tĩnh mạch, Về nhà  hàng ngày con đang uống thuốc chống đông thuốc hạ huyết áp và thuốc tim, hàng tuần vào viện siêu âm tĩnh mạch.

6-Còn ở nhà con đang châm cứu và mát sa bấm huyệt đạo. Con thấy cánh tay trái đỡ bị sưng và mầu da tay trái sẫm mầu hơn tay phải .
Con xin thầy lời khuyên và cách chữa bệnh. Bệnh của con là bệnh gì ạ!
Con xin cảm ơn thầy nhiều.

Trả lời :
Tôi chia bài này làm 6 phần để phân tích đúng sai trong cách tự điều trị :
1-Bị nôn khan lúc 11 giờ đêm, một nửa mình bên trái nặng, áp huyết
150/85/98, điều đó có nghĩa là chức năng bao tử không làm việc vì qúa tải, ăn no đầy vào buổi tối mà không chuyển hóa, nên áp huyết tăng hơn 30mmHg, nhịp nhanh 98 là đương nhiên bị sốt, số thứ hai tâm trương 85 là tim mở lớn nên bị mệt muốn ói, nếu so với tuổi thanh niên thì đó là hiện tượng tai biên, số 85 cũng chỉ ra bệnh ứ tĩnh mạch.
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40tuổi).
Dấu hiệu này có báo trước, trước bữa ăn chiều, đã cảm thấy cơ thể khó chịu, nếu đo áp huyết sẽ thấy cao khoảng 140 trên tiêu chuẩn, nên sau khi ăn chiều áp huyết tăng cao thêm, nếu biết trước thì nên nghỉ ăn một bữa chiều hay ăn cháo, để thức ăn chưa tiêu trong bao tử vào những bữa ăn trước có thời giờ tiêu hóa, thì sẽ tránh được tai biến.
Đây không phải là viêm phế quản, mà do tâm nhiệt theo đông y lả hỏa
đốt kim, trong phổi thấp nhiệt nên có hơi nước trong phổi, nguyên nhân cũng do chức năng bao tử không chuyển hóa, bao tử cũng bị thấp nhiệt..

2-Đây là sự sai phạm của đông y châm cứu không chịu đo áp huyết ở hai tay để biết nguyên nhân tại sao bị thoái hóa khớp gối, lưng, cổ. Nếu biết đo áp huyết thì chính những dấu hiệu này do áp huyết cao gây ra, nên lại tạo ra sai lầm là hơ cứu làm tăng dương tăng hỏa lại làm tăng thêm áp huyết dẫn đến tai biến, nhưng cũng may thầy thuốc đông y lại phát hiện ra kịp thời gọi là trúng gió, nên chữa theo cách trúng gió của đông y chính là cách làm hạ áp huyết. Dân gian gọi lả trúng gió nên tây y và những bệnh nhân không hiểu, vì không ra gió làm sao trúng  gió, mà nhiều người cũng ra gió sao không bị trúng gió vì các thầy tay nghề yếu không giải thích được. Trúng gió theo đông y là "chứng can phong nội động" là sự biến động khí (gió) trong gan tạo ra áp lực khí cao cho gan bơm máu lên tim làm tim đập nhanh, mạnh khiến vỡ mạch máu não.
Nếu thầy đông y châm cứu biết trường hợp thoái hóa này gây đau ở cổ, gáy, lưng, là do áp huyết cao, thì thay vì hơ cứu cho bổ tăng hỏa, thì đổi lại chỉ cần châm nặn máu, vừa tả  hạ hỏa vừa thông khí huyết tắc thì áp huyết giảm sẽ hết đau cổ gáy lưng.
Uống kháng sinh không đỡ vì nguyên nhân viêm phế quản, không do vi trùng, thật ra do gan, tâm, vị, phế thực nhiệt mới nổi hạch.
Chỉ cần dùng ngón tay ấn đè huyệt Khí Hải sâu 3-5cm lâu 1 giờ, cuốn
lưỡi, ngậm miệng, chỉ cần tập nghe khí chuyển động ở bụng dưới nơi
huyệt Khí Hải, thì áp huyêt sẽ giảm, hạch ở cổ và mang tai sẽ biến mất
vì huyệt Khí Hải làm hạ sốt, hạ nhiệt tương đương với thuốc kháng sinh do hệ thống vệ khí trong cơ thể tự điều chỉnh.
Thuốc An Cung Ngưu Hoàng chỉ là thuốc phòng ngừa tai biến mạch máu não, những người uống thuốc cũng vẫn bị tai biến vì không biết tập luyện khí làm hạ áp huyết.

3-Huyết khối tĩnh mạch dưới đòn và tràn dịch màng phổi nguyên nhân đã nói ở trên là gan, tim, phế, vị nhiệt làm ngưng tụ khí đẩy khí lên, mới tạo ra ứ huyết, và cao áp huyết. Xem nguyên nhân tràn dịch màn phổi trong bài này :
Bài 435 : Xin hỏi các thầy về cơ chế bệnh tràn dịch phổi
http://khicongydaododucngoc.blogspot.ca/2012/03/bai-429-xin-hoi-cac-thay-ve-co-che-benh.html

4-Loại thuốc tiêm chống thoái hóa là loại hưng phấn tăng sự tuần hoàn
khí huyết làm tăng áp huyết khi lúc vừa tiêm làm bị choáng, cũng là
sai lầm của tây y không đo áp huyết trước khi tiêm và sau khi tiêm để
biết rõ tính năng của thuốc tác động đối với khí huyết trong cơ thể ra
sao, thuốc cần thời gian chuyển hóa để khí huyết tuần hoàn trong cơ
thể trở lại bình thường.
5-Nhiễm trùng do tiêm, huyết khối tĩnh mạch, uống thuốc chống đông, thuốc hạ áp, thuốc tim, siêu âm tĩnh mạch...Tất cả những cách chữa này không có kết qủa vì nó thụ động, vì tất cả các thuốc đều chứa trong bao tử như một túi đựng rác, ngay cả thức ăn cũng không chuyển hóa được làm sao chuyển hóa thuốc được, nên các bệnh huyết khối, sưng phình tĩnh mạch, cao áp huyết chưa nhận được thuốc, sau đó nhiều thuốc chứa trong bao tử lại trở thành một phản ứng hóa học tạo ra độc tố hại bao tử và gan, gan bệnh thì tim bệnh, tim bệnh thì bao tử bệnh...nghĩa là bệnh nhẹ tích lũy thành bệnh nặng, chỉ vì cơ thể không có khí để đẩy huyết, và chuyển hóa thức ăn, thuốc uống đúng lúc, đúng thời.
Do đó, nếu không tập luyện khí như bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng cho cơ thể chuyển hóa khí huyết lưu thông toàn thân thì cách chữa bằng thuốc đông tây y cũng không có kết qủa. Đã không có kết qủa thì siêu âm tĩnh mạch định kỳ cũng sẽ không có kết qủa mà càng ngày càng tệ, tích lũy ứ đọng nhiều hơn dẫn đến tình trạng phải mổ, mổ xong nơi này lại bị ứ đọng huyết khối nơi khác. Muốn chữa có kết qủa chính là Khí, có khí mới chuyển huyết lưu thông, cần phải tập toàn bài thể dục khí công mỗi ngày 1 lần, sau hai bữa ăn chính sau 30 phút tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần, tập đều đặn trong 1 năm tất cả mọi bệnh tật biến mất.

6-Châm cứu, mát-xa, bấm huyệt chỉ là chữa ngọn, khi hết châm cứu, hết mát-xa, hết bấm huyệt thì bệnh vẫn còn như cũ, vì chính khí lực trong cơ thể không có, không do mình tạo nên, cơ thể không tích lũy được khí do không tập luyện.

Lời khuyên tốt nhất hãy tập khí công, và đo áp huyết theo dõi những
thức ăn, thuốc uống, để điều chỉnh lại cả 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần lọt
vào tiêu chuẩn tuổi thì mọi bệnh sẽ khỏi.

Thân
doducngoc

Thứ Sáu, 23 tháng 3, 2012

Câu hỏi 300 : Hỏi cách chữa những bệnh Gan.


Kính gởi thầy Ngọc,

Thành thật cám ơn sáng kiến và lòng tốt của Thầy đã chia sẻ chất xám và kinh nghiệm chữa bệnh. Hy vọng nhiều người, kể cả em, sẽ cố gắng tự học thuộc để chữa bệnh cho mình và người khác.

Gần đây có nhiều người hỏi em về bệnh gan.

1-Hình như GAN suy nên gân tay không còn khéo nữa, hay làm bể đồ đạc (nữ tuổi 45).
2-Có người mụn cứ xì ra ở mặt và quanh miệng muốn méo luôn ( nữ tuổi 39).
3-Có người men gan tăng cao và bụng bự ra (nam 44 tuổi)

4-Thầy có toa thuốc nào để xổ độc gan không Thầy. Có lẽ bao nhiêu năm không để ý nên GAN ngày càng suy giảm chức năng. Do đó, cần xổ độc để máy lọc này làm việc tốt hơn.
Chân thành cám ơn Thầy trước.

Kính thư,

Hùng Phan

Trả lời :

A-Nguyên nhân :

Theo định đề ngũ hành tạng phủ, bệnh của Gan do nhiều yếu tố gây bệnh, phân loại theo âm-dương, hư-thực, hàn-nhiệt, biểu-lý. Và mỗi loại phải tìm theo nguyên nhân mẹ-con khi bị hư theo vòng ngũ hành tưong sinh như thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy, và theo nguyên nhân truyền kinh do thực chứng vừa theo vòng tương sinh vừa theo vòng tương khắc như kim khắc mộc, mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim….

Tất cả những thay đổi để làm thành bệnh đều do khí-huyết bị thay đổi (gọi là âm dương mất quân bình). Âm tuơng trưng cho huyết, dương tượng trưng cho khí.

1-Khí huyết trong cơ thể thay đổi đều xét tìm nguyên nhân theo Tinh-Khí-Thần :

Tinh là do ăn uống thuốc men không hợp với cơ thể gây ra bệnh. Khí là do làm việc vất vả làm tiêu hao khí hay ngược lại lười không tập luyện vận động gây ra bệnh. Thần là tình cảm biến đổi bất thường như lo lắng, giận hờn, cáu gắt, chán nản…gây ra bệnh. Những nguyên nhân này làm mất quân bình âm-dương khí huyết trong cơ thể, nó làm cho thiếu (hư) hay dư thừa ( thực), nên tạo ra những bệnh :

a-Khí hư, huyết không hư (can khí hư, áp huyết thấp)
b-Khí thực, huyết không hư (can khí thực, áp huyết cao)
c-Huyết hư, khí không hư (can âm huyết hư, nội nhiệt )
d-Huyết thực, khí không hư (can huyết ứ trở, thấp nhiệt)
e-Khí và huyết đều hư (can khí can huyết đều hư, thiếu máu, nhịp tim nhanh)
f-Khí và huyết đều thực. (can dương thượng kháng, áp huyết cao)
g-Khí thực, huyết hư (can khí thượng nghịch)
h-Khí hư, huyết thực. (can viêm)

2-Các loại bệnh của tạng phủ thường gặp theo đông y :

Như vậy bệnh của khí huyết có 8 nguyên nhân, lại chia ra 8 trường hợp cho mỗi tạng phủ, cơ thể con người có lục phủ, ngũ tạng là 11 cơ quan, sẽ có 88 loại bệnh khác nhau., thí dụ tên gọi của 1 bệnh của tim như : Tâm huyết hư, tâm khí hư, tâm âm tâm dương hư….thay những chữ tâm, can, tỳ, phế, thận, vào 1 trong 8 nguyên nhân a,b,c,d,e,f, g, h…
Nhưng nếu khi khám có chứng bệnh như thế, đông y không chữa thẳng vào chứng bệnh này, gọi là chữa ngọn, đó là biến chứng hay ảnh hưởng do mẹ-con, hay do truyền kinh.

a-Nguyên tắc truyên kinh theo mẹ con do bệnh hư chứng :

Bệnh hư chứng do mẹ truyền cho con, có nghĩa con bệnh do mẹ hư không đủ năng lượng nuôi con, đó là 2 kinh bị bệnh. Khi mới phát bệnh, gọi là chính kinh bệnh, tạm gọi là bệnh nhẹ, thí dụ kinh tỳ thổ âm bệnh hư, nhưng khi nó hư không đủ sức nuôi con nó là phế kim, làm con nó là phổi bị bệnh, là bệnh đã bị ở 2 kinh, thì nặng hơn, lúc đó phế kim bệnh hư, sẽ không nuôi con nó là thận thủy, thì thận cũng bệnh, lúc đó là bệnh cả 3 kinh, không chữa đúng, bệnh hư truyền theo mẹ con đi đủ 5 hành thổ, kim, thủy, mộc, hỏa, thổ…là bệnh rất nặng do chữa sai, đợi biến chứng xảy ra rồi mới chữa, vì chỉ chữa đuổi theo ngọn mà không chữa gốc theo kinh mẹ-kinh con và ngừa biến chứng.

b-Bệnh thực chứng truyền kinh :

Bệnh thực, thì bệnh truyền sang bất kỳ kinh nào trong cơ thể yếu nhất, khi kinh đó bị hư, thì nó không theo quy luật mẹ con.

Hai cách truyền bệnh theo lý thuyết của đông y, khi bắt mạch có thể biết trước được, nhưng tây y không thấy, gọi là di căn. Di căn có nghĩa là bệnh qúa nặng, chữa không đúng gốc, để bệnh truyền kinh. Do đó, phương pháp chữa của đông y đối với thầy thuốc giỏi, việc ưu tiên là ngừa biến chứng truyền kinh trước, sau chữa gốc bệnh, thì tất cả các triệu chứng bệnh sẽ tự hết, không cần chữa ngọn vào các triệu chứng. Cho nên tây y không hiểu phương pháp chữa bệnh của đông y, mới gọi là đau đông chữa tây. Thực ra, nếu chữa ngọn, mà không ngừa biến chứng và chữa gốc, bệnh cứ phát triển thêm những triệu chứng khác.

Một thí dụ đơn giản như trần nhà bị nước mưa làm lủng lỗ mình không thấy, lâu ngày nước loang lổ trong trần nhà lọt nước rơi xuống chỗ này chỗ kia, rớt xuống ướt bàn, ướt tủ, ướt ghế, ướt giường. Mình sợ ướt, lấy khăn khô chùi cho khô, một lúc nó ướt lại nữa, ví như cách dùng thuốc của tây y là chữa ngọn, nó khỏi rồi lại tái phát, còn dẹp bàn, tủ, giường đi chỗ khác, thay bàn, tủ, giường mới, ví như đó là phương pháp cắt bỏ thay thế, rồi nó vẫn bị ướt lại. Lý do không tìm nguyên nhân gốc ở trên mái nhà, tìm xem trần nhà đã bị hư hỏng dột ở chỗ nào để chữa mới là chữa gốc tìm nguyên nhân chính.
Áp dụng theo phương pháp của đông y, ngừa biến chứng là tạm để xô hứng nước cho khỏi ướt bàn, chữa gốc là tìm trám lỗ lủng trên trần nhà, chữa ngọn lau khô chỗ ướt trên bàn. Dĩ nhiên sau đó bàn khô, vứt xô hứng nước đi không cần dùng nữa, như vậy không hư hỏng bàn, không lây lan sang giường, ghế, tủ… có nghĩa là khỏi cần mổ xẻ thay thế.

3 -Nguyên nhân gốc của bệnh áp huyết :

Trở lại vấn đề bệnh nguyên nhân do ăn uống thuốc men làm ra, đã khiến cho bệnh trở nặng như thuốc trị bệnh cao áp huyết và tiểu đường, vì không chữa vào gốc bệnh, cứ chữa ngọn, chữa hoài không khỏi gọi là bệnh nan y, một thời gian sau, bệnh truyền kinh, gọi là di căn, tiểu đường làm mù mắt, mục da thịt phải cưa chân, cao áp huyết không chữa vào gốc bệnh di căn làm nghẹt tim, máu nhồi cơ tim, tai biến mạch máu não, tê liệt..
Bệnh áp huyết là bệnh của tim mạch, áp huyết cao gọi là thực chứng, dùng thuốc trị bệnh cao áp là chữa ngọn, có hiệu qủa làm giảm áp huyết, do 4 yếu tố : thuốc làm giãn mạch, thuốc lợi tiểu, thuốc giảm thần kinh hưng phấn, và thuốc nhuận trường, 4 yếu tố này là chữa ngọn, giảm thoát khí thành bình thường hết thực. Nhưng vì phải uống thuốc suốt đời để giảm nữa, nên từ bình thưòng trở nên hư, tiếp tục hư càng thêm hư, áp huyết xuống càng thấp so với số tuổi, trở thành thiếu máu não, thần kinh tê liệt, biến chứng thành bệnh bại liệt, chân tay xuội lơ không sức, ngược lại áp huyết càng tăng, thực càng thêm thực, biến chứng đứt mạch máu não, thành bệnh tê liệt co cứng.

Tây y lý luận phải uống thuốc suốt đời, vì đề phòng khi ngưng thuốc, áp huyết sẽ tăng vọt lên cao trở lại. Điều đó do kinh nghiệm tây y thấy đúng, nhưng thật ra không phải do thuốc. Gốc bệnh làm cao áp huyết theo đông y là mẹ truyền con, mặc dù có uống thuốc, nhưng mẹ là gan, con là bao tử, hai cơ quan này luôn thay đổi do ăn uống và do tính tình. Điều này chúng ta có thể kiểm chứng thấy được khi đo áp huyết ở hai tay, kết qủa số đo bên tay trái liên quan đế bao tử, kết qủa bên tay phải liên quan đến gan. Và chúng ta sẽ ngạc nhiên khi thấy kết qủa áp huyết thay đổi trước khi ăn và sau khi ăn 30 phút, tùy theo nguyên nhân bệnh hư hay thực của chức năng gan hay bao tử mà có người trước khi ăn áp huyết thấp, sau khi ăn áp huyết cao, có người trước khi ăn áp huyết cao, sau khi ăn áp huyết thấp, có người bị rối loạn áp huyết xảy ra trường hợp trước khi ăn áp huyết bên này cao bên kia thấp, sau khi ăn bên này lại cao bên kia lại thấp…

Lý thuyết đông y, gan thực mạnh làm con nó là tim mạnh theo mới làm ra bệnh cao áp huyết, đó là bệnh nguyên nhân do mẹ truyền con. Bệnh cao áp huyết này do mẹ làm ra phải chữa gốc bệnh ở mẹ là gan, chứ không chữa ở con. Nên đông y khí công phải chữa cho gan hết thực, điều chỉnh Tinh-Khí-Thần. Điều chỉnh Tinh là điều chỉnh thức ăn thuốc uống không làm tăng can khí, can huyết, không để bị chậm tiêu hay táo bón, mà làm cho nhuận trường….. về phương pháp dưỡng sinh, trường hợp náy ăn gạo lức muối mè làm hạ áp huyết, giảm đường, giảm cân, khi áp huyết xuống thấp thì phải ngưng, không được ăn gạo lức muốI mè nữa sẽ trở thành bệnh hư chứng, mất khí, mất huyết, người gầy ốm, thiếu máu, áp huyết thấp, đã có người áp dụng sau 5 năm, cơ thể suy nhược thiếu khí huyết, ốm hốc hác, thiếu máu trầm trọng, áp huyết thấp 100mmHg, van tim hẹp 54, nhịp tim nhanh 123, người nóng sốt, thường hay bị xỉu, chân tay vô lực, cuối cùng đã chết trong bệnh viện, nên khi áp dụng phương pháp ăn gạo lức muốI mè cũng cần phảI kiểm soát khí huyết trong ngườI đủ hay thiếu bằng máy đo áp huyết, nếu thấp dướI tiêu chuẩn thì phảI tạm ngưng.

Điều chỉnh Khí : Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần sau mỗi bữa ăn giúp hấp thụ chuyển hóa thức ăn nhanh, giúp làm mạnh hệ thống tiêu hóa, và làm thông khí huyết toàn thân, làm hạ đườngm hạ áp huyết, giảm mỡ bụng, không bị táo bón hay tiêu chảy..

Điều chỉnh Thần là điều chỉnh thân nhiệt và áp huyết, bằng cách tập thở ở Đan Điền Thần (huyệt Cưu Vĩ) làm tăng thân nhiệt, hay tập thở ở Đan Điền Tinh huyệt Khí HảI làm giảm thân nhiệt.

Có trường hợp áp huyết do chính qủa tim, không bệnh, áp huyết bình thường, nhưng chúng ta thử cười phát ra to tiếng trong 5 phút, trước khi cười áp huyết 130/80mmHg mạch 70-80, cười vừa xong đo áp huyết tăng lên đến 170/95mmHg mạch 80, cho nên những người đã bị cao áp huyết sẵn ở mức 160, khi cười to tiếng sau trận cười áp huyết lên 190-200 làm đứt mạch, chuyện có thực nhưng hy hữu ít khi xảy ra. Bệnh áp huyết này do chính tim làm ra.

Nguyên nhân áp huyết cao do gốc bệnh ở bao tử ăn no, ăn nhiều chất cay, nóng, những chất làm bao tử lên men, ợ hơi, như rượu, bia, nhãn, soài, sầu riêng, khô mực, cam thảo, gan gà, nhiều thịt mỡ ăn không tiêu đầy hơi… bao tử là con của tim bị thực, sẽ không cần mẹ là tim nuôi, nên tim tụ nhiên dư thừa năng lượng, khiến tim đập nhanh, mạnh, nóng khiến áp huyết tăng làm đứt mạch, bệnh cao áp huyết loại này do chính con nó là bao tử làm ra, nên phải chữa chỉnh lại bao tử. Điều này có thể giảI thích trường hợp một người bị bệnh cao áp huyết, đã uống thuốc trị áp huyết mỗI ngày, nhưng không để ý đo áp huyết sau khi ăn tiệc, ăn no, ăn nhiều, nhiều thức ăn bổ, nhiều bia rượu, ăn những thức ăn tăng nhiệt, khó tiêu là vị thực, đầy bụng…về nhà ngủ một đêm, sáng không tỉnh dậy nữa, áp huyết cao đã làm đứt mạch máu não….

Loại khác do biến chứng truyền kinh, như do thận nhiều nước làm tắt hỏa ở tâm, khiến tim bị bệnh cao áp huyết, do bệnh phổi, thay vì tâm hỏa khắc phế kim, nhưng ngược lại phế kim bệnh thực lại mạnh hơn tâm hỏa, giống như trong gia đình, thông thường con sợ mẹ, ngược lại mẹ thất thế, con ăn hiếp mẹ, mẹ sợ cũng thành bệnh...

Theo quy luật mẹ con và biến chứng truyền kinh, thì bệnh gan cũng không ngoại lệ, nên bất kỳ một loại bệnh nào đều do ảnh hưởng của tinh-khí-thần.

Tinh do ăn uống thuốc men sai lầm :

Như gan sợ chua, làm mất máu dự trữ trong gan, làm chùng giãn gân, do ăn mặn nhiều hại thận, khiến thận hư, thận là mẹ của gan không cung cấp năng lượng nuôi gan, gan sẽ hư do bệnh của mẹ là thận, hay ăn nhiều chất đắng như barbercue, thịt nướng cháy khét, chất đắng vào tim hại tim là con của gan, tim bệnh thực làm gan sẽ dư thừa năng lượng không cần nuôi con, cũng sẽ bị bệnh thực. Theo biến chứng truyền kinh thì gan thuộc mộc khắc thổ là bao tử, nhưng ngược lại thổ thực là bao tử đầy, mạnh thừa khắc lại gan làm gan bệnh, hoặc do phổi bệnh lao là kim thực, kim sẽ khắc mộc hại sang gan....
Khí làm cho cơ thể bệnh:

Như khí hậu bên ngoài là phong, hàn, thử, thấp, táo, nhiệt của 4 mùa không thích hợp với thể trạng con người, thí dụ con người dù khỏe mạnh đến đâu khi làm việc đứng giữa nắng ngoài trời hay dầm mưa mãi cũng thành bệnh, đứng ngoài gió lạnh lâu, hay làm việc trong lò nung nóng nhiệt độ cao, làm việc nơi ẩm thấp...tất cả những nguyên nhân này cũng làm ra bệnh.

Thần làm ra bệnh :

Tính tình con người thay đổi làm ra bệnh, vui qúa hại tim, lo qúa hại bao tử, buồn qua hại phổi, sợ qúa hại thận, giận qúa hại gan, trong dân gian thường nói : vui qúa hóa dại hại tim (bệnh thần kinh), lo qúa ăn mất ngon hại tỳ, buồn qúa ưa thở dài chán đời hại phổi, sợ qúa vãi đái hại thận, giận qúa bầm gan tím ruột hại gan...

Để trả lời 4 câu hỏi dưới đây, theo phương pháp KCYĐ. khám định bệnh bằng máy đo áp huyết, thử đường, nhiệt kế, sẽ có những trường hợp xảy ra sau đây :

1-Hình như GAN suy nên gân tay không còn khéo nữa, hay làm bể đồ đạc (nữ tuổi 45).

2-Có người mụn cứ xì ra ở mặt và quanh miệng muốn méo luôn ( nữ tuổi 39).

3-Có người men gan tăng cao và bụng bự ra (nam 44 tuổi)

4-Thầy có toa thuốc nào để xổ độc gan không Thầy. Có lẽ bao nhiêu năm không để ý nên GAN ngày càng suy giảm chức năng. Do đó, cần xổ độc để máy lọc này làm việc tốt hơn.

Trường hợp 1 : gân tay không còn khéo, hay làm bể đồ đạc.

Theo đông y, gan chủ gân, dây thần kinh, cung cấp máu cho tim tuần hoàn, nói khác đi tim là máy bơm máu cho gan dẫn vào các ống mạch máu như động mạch, dây thần kinh não bộ, những dây thần kinh vận động, phản xạ, đưa máu đi khắp cơ thể để nuôi các tế bào.
Gan muốn cung cấp máu cho tim, nhờ tim co bóp đẩy máu, thì can phải có hai điều kiện tốt là gan chứa máu phải đủ, gan khí là lực co bóp của gan phải mạnh để truyền máu cho tim, đông y gọi là can khí, can huyết.

Như vậy, gân tay không còn khéo là những dây thần kinh vận động ở tay không đủ máu, đủ khí, có 3 trường hợp :

a-Tay yếu sức, khí huyết không dẫn đến bàn tay, và đầu ngón tay, nên khó cử động, không linh hoạt…lúc đó kiểm soát bằng máy đo áp huyết thấy áp huyết thấp dưới tiêu chuẩn, thuộc bệnh hư chứng.

Cách chũa : Cần phải uống thuốc Bổ Hư Thangđể bổ thêm máu và tập bài Vỗ Tay 4 Nhịp để thông khí huyết ra tay, day 5 đầu ngón tay để thông khí huyết ra tay làm các ngón tay linh hoạt.

b-Khi đo áp huyết bên tay không linh hoạt, bàn tay ngón tay cứng không co nắm được vật gì, đo áp huyết cao hơn tiêu chuẩn thì nguyên nhân do tắc khí huyết ở cổ tay, không thông ra đến bàn tay, đầu ngón tay, bệnh nhân có những ngón tay mà tây y gọi là bệnh thấp đa khớp, 5 ngón tay sưng như bệnh gút, bàn tay nóng hoặc tê lạnh, thâm tím do trong máu có nhiều chất vôi làm thành bệnh huyết hóa vôi, hoặc nồng độ đường trong máu cao làm ngón tay nóng hoặc nồng độ đường trong máu thấp làm bàn tay ngón tay lạnh tím.

Cách chữa : Cần phải châm nặn máu bầm, máu ứ tắc ở 5 đầu ngón tay là máu cũ bị ứ đọng từ lâu, cho đến khi máu thông chảy ra dễ và ra máu mầu đỏ tươi là máu mới đã đến được 5 đầu ngón tay, lúc đó bàn tay và ngón tay mề, có sức năm chặt được bàn tay, nặn máu tiếp cho đến khi áp huyết đo ở tay xuống thấp lọt vào tiêu chuẩn, rồI tập khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp và bài Quay Vặn Khớp Vai.

c-Khi đo áp huyết đúng tiêu chuẩn, không cao không thấp, tay run, không có sức là bệnh thần kinh vận động tay trên não tắc nghẽn, tây y gọi là bệnh Parkinson, bị run giật không kiểm soát điều khiển được.

Cách chữa : Tìm đường đi của kinh Đởm trên đầu bằng máy đo nhiệt kế, cứ mỗi đoạn 1cm, bấm máy đo nhiệt độ, thường ở vùng huyệt Thừa Linh có nhiệt độ thấp, máy chỉ Lo, bên cạnh máy chỉ 36.5-37 độ. Châm nặn máu vào điểm không có độ, đo lạI, thì a-thị-huyệt đó có độ bằng vớI những điểm khác, rồI châm nặn máu 5 đầu góc móng tay gọi là Tịnh Huyệt, thì bàn tay hết run giật.

Phân biệt bệnh run giật tay do áp huyết thấp thiếu khí huyết, tây y vẫn cho là bệnh Parkinson là sai, đông y chỉ gọI là bệnh thiếu khí huyết, tay chỉ run giật khi không có điểm tựa, nhưng khi đặt tay trên bàn thì tay không bị giật, ngược lạI, Parkinson thực thì để tay lên bàn cũng vẫn bị run giật. Hai cách chữa khác nhau.

2-Trường hợp mặt xì mụn.

Có hai loại mụn khác nhau là mụn âm và mụn dương.

Mụn âm là mụn chìm không có ngòi, mầu không đỏ, không đau, là gan huyết hư thiếu, áp huyết thấp, lúc có nhiều là can khí thiếu, lúc biến mất là can khí đủ mới đưa oxy lên da mặt..
Cách chữa : Bổ máu, và tập thể dục khí công cho áp huyết lên đủ nuôi da mặt.

Mụn dương là mục có ngòi nổi đỏ trên da mặt, sờ đau, là can khí huyết thực, thường có ở tuổi dậy thì và ở những người có bệnh áp huyết cao mà máu trong gan bị nhiễm độc.
Cách chữa : Làm hạ áp huyết và tẩy độc máu trong gan bằng các uống Phan Tả Diệp, tập Bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng, tập thở Đan Điền Tinh là hạ nhiệt, hạ áp huyết và đường trong máu.

3-Men tăng cao và bụng bự ra :

Do ăn nhiều, uống nhiều mà lười tập. Ăn nhiều mà không chuyển hóa, thức ăn không biến thành chất bổ mà bién thành đàm, mỡ, cholesterol và chứa độc tố trong gan, khiến gan phải tiết ra nhiều men men vẫn không tống độc được ra khỏi cơ thể vì can khí không đủ, can huyết dư gây nên bệnh áp huyết cao, tắc nghẽn mạch vì không có khí giúp chuyển hóa và lưu thông máu.

Cách chữa : Uông 1 tuần Phan Tả Diệp cho xổ độc máu trong gan làm hạ áp huyết và làm tan mỡ xẹp bụng, Uống xen kẽ cách ngày thuốc Ngũ Vị Tử làm hạ men gan. Tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 200 lần liên tục, tập 6 lần trong ngày, sáng, tối , trươc và sau khi ăn hai bữa cơm, trong 1 tháng, có thể thay bữa ăn hàng ngày bằng gạo lức muối mè 2 tháng thì bụng mập biến mất.

4-Thuốc xổ độc máu trong gan

Phan Tả Diệp lọc máu trong gan. Ngũ Vị Tử làm hạ men gan.

(Xem bài công dụng của Phan Tả Diệp và Ngũ Vị Tử).

Thân
doducngoc