Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

Bài 445 : Cách hướng dẫn tự chữa bệnh theo KCYĐ.

Trên diễn đàn hay trong thùng thư riêng, mỗi ngày tôi nhận hơn 300 thư hỏi bệnh và những thư linh tinh khác không liên quan đến bệnh tật.

Việc đầu tiên tôi xóa tất cả thư không liên quan đến bệnh tật, và những thư hỏi bệnh không đầy đủ yêu cầu đo áp huyết để biết bệnh hư thực hàn nhiệt, vì không xét đoán được nguyên nhân theo phương pháp KCYD.

Những thư hỏi bệnh còn lại, tôi copy để trong hồ sơ hỏi bệnh có đủ nội dung theo yêu cầu, lúc đó tôi đọc qua và chọn ra những bệnh cần ưu tiên cấp cứu, bệnh cấp tính, bệnh nguy hiểm, nếu để lâu sẽ chết người, những bệnh này được trả lời trước.

Còn những bệnh không nguy hiểm thuộc mãn tính, và đã có nhiều bài viết trả lời về bệnh này, thì tôi theo dõi xem các học viên trả lời ra sao, bệnh nhân tự chữa ra sao, kết quả nhanh hay chậm...các học viên trả lời đúng hay sai, khi trả lời không đúng lắm tôi mới xen vào góp ý, để cho học viên được hướng dẫn thực tập khám bệnh, định bệnh, và chữa bệnh, giúp học viên tự tin hơn, có nhiều kinh nghiệm để trở thành thầy giỏi KCYD, sau này sẽ truyền bá kinh nghiệm của mình cho những người khác.

Những thư hỏi bệnh mãn tính, không nguy hiểm, bệnh nhân chờ lâu không thấy trả lời có những lý do sau đây :

Đã có nhiều bài trả lời trong trang nhà về bệnh này, mà bệnh nhân không mở ra xem, không nghiên cứu học chỉ đặt câu hỏi rồi chờ trả lời như chờ sung rụng.

http://khicongydaovietnam.wordpress.com/

http://khicongydaododucngoc.blogspot.ca/

http://khicongydaotoronto.com/forum/viewforum.php

Nên tôi xin nhắc lại để mọi bệnh nhân biết KCYĐ là một phương pháp hướng dẫn bệnh nhân học cách tự chữa bệnh, để có thể chữa bệnh cho chính bản thân mình, cho người thân và bạn bè của mình, sau nữa là chữa bệnh cho những người khác để tạo công đức, cho nên muốn tự chữa được bệnh cần phải thực hiện hai yếu tố :

Học và Hỏi để giỏi về lý thuyết

Học và Hành để có kinh nghiệm trong thực hành.

Yếu tố Học và Hỏi :

Nếu theo hai yếu tố này, thì mọi người đều chỉ đặt câu hỏi, mà không có học những gì trong trang nhà có, nên hỏi những câu đã có trả lời trong nhiều bài viết, và những video bài giảng.

Những sai lầm này đều thấy ở những thư hỏi bệnh, là tại sao lại bị bệnh này, tại sao uống thuốc đông tây y không khỏi, tại sao bệnh nhiều năm chữa không bớt, mà trong câu hỏi đã có câu trả lời sẵn là số đo áp huyết qúa cao là dư máu, hay quá thấp do thiếu máu, so với áp huyết tiêu chuẩn tuổi, mới gây ra nhiều biến chứng của mọi loại bệnh tật.

Đối vơí phương pháp KCYĐ không có bệnh nào là khó ngoài 2 yếu tố Khí và Huyết, Khí là chức năng hấp thụ chuyển hóa do tập luyện khí công, Huyết là máu cao thì làm cho máu thấp, máu thấp do thiếu máu thì bổ máu.

Yếu tố Học và Hành :

Ở những thư hỏi bệnh, bệnh nhân đã áp dụng, lại hỏi tiếp sao bệnh bớt mà chưa khỏi, thì cũng đã có câu trả lời nguyên nhân đã có sẵn trong thư báo kết qủa sau khi áp dụng được một vài tuần.

Thí dụ các biến chứng của bệnh do áp huyết cao, một bệnh nhân trước khi chưa chữa có áp huyết cao 180, sau khi chữa 1 tuần áp huyết đo được 160, đặt câu hỏi, thầy ơi áp huyết vẫn còn cao phải làm gì bây giờ.

Mình phải tự hỏi mình, mình làm sao mà 1 tuần bệnh nhân có áp huyết từ 180 xuống còn 160, đó là cách áp dụng đã có kết qủa, tại sao không áp dụng tiếp, nhiều khi lại còn hỏi chữa bao lâu thỉ khỏi bệnh. Tự mình tính ra được thời gian như 1 tuần áp dụng đúng áp huyết xuống 20mmHg, mình muốn áp huyết xuống đúng tiêu chuẩn như 120 thì phải mất 4 tuần, nếu muốn nóng vội có kết qủa nhanh thì tập áp dụng tăng gấp 4 lần trong một tuần, nếu muốn khỏi nhanh nữa tập gấp 8 lần trong 3 ngày, có nghĩa là tập luyện khí công một bài 200 lần thì tập 2000 lần, uống thuốc bổ máu 3-4 ngày 1 thang thì một ngày uống hai thang.

Có những câu hỏi ngớ ngẩn như đo đường thấp thì phải làm sao ? Câu trả lời dễ nhất, thiếu đường thì ăn đường. Có người lại hỏi, sợ ăn đường bị tiểu đường thì sao ? Thì dùng máy đo đường để thử đường, đường chưa lên đúng tiếu chuẩn 6.0-8.0mmol/l thì vẫn có quyền ăn mà không sợ bị tiểu đường, còn khi đường trong máu cao hơn tiêu chuẩn thì bớt ăn đường và tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp , Vặn Mình 4 Nhịp làm hạ đường. Đó là chỉ hỏi mà không thực hành để kiểm chứng tích lũy kinh nghiệm.

Có những câu hỏi, tại sao áp huyết lúc tăng lúc giảm, tự mình hỏi thì tự mình suy luận xem bệnh nhân Hành hay mình hướng dẫn bệnh nhân Hành có đúng vào trường hợp bệnh đang cần hay không.

Thí dụ muốn cho áp huyết xuống nhanh mà không tập bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 800 lần/ngày, mà chỉ tập bài cào đầu vuốt cổ gáy... không ăn nhập gì đến vấn đề thay đổi áp huyết, hay lại cho tập bài Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực và bài Nạp Khí Trung Tiêu làm tăng áp huyết cao thêm... là thầy thuốc đã cho sai thuốc tập khí công rồi. Ngược lại áp huyết đang thấp, lại cho uống Phan Tả Diệp, lại tập nhiều lần bài Kéo Ép Gối làm tụt áp huyết, thì thầy thuốc sai phạm vào điều cấm kỵ, bệnh hư làm hư thêm, bệnh thực làn thực thêm.

Học lý thuyết để đem ra áp dụng là Hành theo 3 tiêu chuẩn Tinh-Khí-Thần, 3 yếu tố này đều theo một hướng đồng bộ là làm tăng áp huyết hay làm giảm áp huyết, mà không nên làm mất điều hòa, như tập khí làm tăng, mà cho Phan tả Diệp hay ăn chua cho áp huyết xuống là sai, Thần cũng phải có mục đích làm tăng hay giảm áp huyết.

Thời gian để chữa bệnh có kết qủa tùy vào thời gian Hành là áp dụng.

Tóm lại những thư hỏi và trao đổi trên diễn đàn đã thấy có kết qủa Hành đúng nhưng chưa đủ nên kết qủa chậm.

Chúng ta đã xem bài Mê Chướng Ma Chướng, môn KCYĐ chỉ chịu thua không chữa được bệnh, khi bệnh nhân không thực hành theo hướng dẫn của thầy KCYD, thì chúng ta không nên quan tâm đến những trường hợp này, chỉ làm mất thời gian của cả thầy thuốc lẫn người bệnh. Hãy để giành thời gian chữa bệnh cho những người nghèo khác đang cần đến chúng ta, tuy nhiên khi họ tin mời chúng ta trở lại thì họ phải tuyệt đối tuân theo những cách mà mình hướng dẫn, có thể in bài Chúng sanh không muốn hết bệnh để cho họ xem.

Vì muốn hết bệnh phải thực hành ngay, có nhiều bệnh nhân chỉ muốn phó mặc cho thuốc men và thầy chữa mà lười tập thì trong 3 yếu tố chữa theo Tinh-Khí-Thần, thì mới chữa Tinh nên dù thuốc có chữa hay, và đúng bệnh, bệnh cũng chỉ bớt 30%, còn 30% không tập luyện khí để giúp hấp thụ chuyển hóa và tuần hoàn máu phục hồi tế bào bệnh, và 40% tùy thuộc vào yếu tố Thần là thư giãn thở thiền điều chỉnh lại hệ thần kinh âm dương hòa hợp là thần kinh hưng phấn-ức chế của thần kinh chức năng giao cảm, đối giao cảm trở lại trạng thái bình thường. Thần vững thì khí-huyết không bị xáo trộn, giống như câu nói của Thái Sư Trần Thủ Độ : Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo, nên vua không hoảng sợ bỏ chạy là Thần vững, nên toàn dân không náo loạn, đối với bệnh tật là những tế bào không rối laọn nhịp sinh học gây ra biến chứng tạo thành bệnh tật là nhờ thiền.

Hãy xem video chữa bệnh bằng Đạo Học :

Trở về từ cửa tử thần :

http://www.youtube.com/watch?v=5XCwjqYQ_KU
http://www.youtube.com/watch?v=svtQYRCr ... re=related

Những học viên nào, hay những bệnh nhân nào muốn tự chữa bệnh theo phương pháp KCYD nên bắt đầu áp dụng đúng theo hai yếu tố Học Hỏi, và Học Hành như hướng dẫn sẽ tự chữa được cho mình khỏi bệnh, và sẽ trở thành thầy KCYD giỏi trên thế giới, vì am hiểu được những ưu khuyết điểm của cả đông y lẫn tây y về việc chữa bệnh, mà phương pháp của nó chỉ là điều chỉnh lại tình trạng Khí và Huyết theo 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần hòa hợp.

Xin chúc cho các học viên và bệnh nhân trở thành những người hữu ích cho xã hội về lãnh vực phục vụ sức khỏe cho nhân loại.

Thân

doducngoc

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2012

Bài 444 : Công dụng của máy đo oximeter trong việc định bệnh theo KCYĐ.

Máy oximeter :

Máy oximeter thường dùng trong KCYĐ có hai loại :

Loại máy hiệu Nonin model 8500 và loại hiệu GO2 model 9571 cũng của hãng Nonin :

http://www.turnermedical.com/

Loại hiệu Nonin 8500 :

Thường dùng trong bệnh viện, hiệu Nonin gồm một máy chính hiện ra hai số, bên trái chỉ phần trăm oxygiène thẩm thấu trong máu chạy qua một sensor ghi nhận được, theo tiêu chuẩn từ 90-95% là người khỏe bình thường, còn người có dư oxy, khỏe mạnh do tập thể dục hay vận động thường xuyên thì được từ 95-100%. Còn khi máy đo được dưới 90% là thiếu oxy trong máu.

Bên hàng dưới có đèn báo tuần hoàn máu, khi đèn không báo là khí huyết chưa chạy đến, khi chớp đèn đỏ là tuần khí huyết đang chạy đến nhưng còn bị ứ tắc, khi đèn vàng là tuần hoàn khí huyết chậm, khi đèn xanh là tuần hoàn khí huyết thông, còn đèn chớp xanh liên tục là tuần hoàn tốt, đủ máu để máy bắt được tốc độ nhịp mạch đang chạy và phần trăm oxy, còn lúc xanh lúc vàng là tuần hoàn khí huyết chưa thông.

Máy có 3 dây sensor để đo tùy theo nhu cầu mà bác sĩ muốn biết :

a-Dây sensor kẹp ở dái tai, đo oxy trong máu có lên tai không, để biết bệnh ở thận, rối loạn tiền đình, bệnh ở tai, bệnh ở nửa đầu, chóng mặt nhức đầu……

Loại dây này không cần thiết nên ít dùng.

b-Dây sensor kẹp ở đầu ngón tay, ngón chân :

Loại này thường dùng trong bệnh viện, thường kẹp ở ngón tay giữa, xem oxy trong máu có đủ trên 90% hay không, nếu không đủ thì phải cho đeo mask tăng cường thêm oxy cho phổi có thêm oxy giúp máu tuần hoàn, thường dùng trong bệnh phổi, bệnh suyễn, cơ thể suy nhược thiếu oxy do nhiều nguyên nhân.

c-Dây sensor không dùng để kẹp mà có một đèn sensor đo trên bất kỳ một điểm nhạy cảm nào trên da, như trên các huyệt, tây y thường dùng đo trên trán, KCYD dùng để đo trên những huyệt đầu và cuối đường kinh và những huyệt giao hội…

Loại dây này ít dùng, đôi khi không chính xác khi da ẩm ướt hay da qúa khô.

Loại hiệu GO2 :

Là một loại máy kẹp trực tiếp vào ngón tay chân, không có dây, thật thông dụng để thầy thuốc hay bệnh nhân đều dùng được dễ dàng, máy cũng đủ hai số, số đo oxy dưới ký hiệu SpO2 chỉ phần trăm oxy thẩm thấu trong máu hiện ở hàng trên, hàng dưới chỉ nhịp chạy của mạch, hàng dưới là đèn báo giao động tuần hoàn máu cũng như máy Nonin.

Ở bệnh viện thường chỉ dùng dây sensor kẹp ngón tay ngón chân, nhưng không bao giờ đo ở ngón chân. Khi cấp cứu, đo ở ngón tay chỉ biết tổng quát là cơ thể có cần máy trợ thở oxy hay không mà thôi.

Khi khám bệnh bằng oximeter ở các ngón chân ngón tay, sẽ phát hiện dấu hiệu bệnh ở ngọn, thuộc cục bộ ở đầu ngón chân tay, sẽ phát hiện bệnh ở đường kinh, sẽ phát hiện bệnh trong nội tạng.

Vì tây y đã không nghiên cứu kỹ về kinh mạch như đông y, nên đã có sai lầm cứ tưởng khi đo oxy, ở ngón tay hay ngón chân hay bất kỳ nơi nào trong cơ thể cũng đều giống nhau, nên việc đo ở những ngón tay khác hay ở ngón chân không cần thiết, nhưng thật ra nó rất quan trọng để khám định bệnh.

Ngay cả khi đo áp huyết cũng tưởng ở tay nào cũng giống nhau, hay đo ở chân cũng giống như ở tay, là một sai lầm lớn, nên không phát hiện ra được những bệnh nan y,

Dưới đây là một thí dụ cụ thể, một bệnh nhân có bệnh tê đau đầu ngón tay phải 5 năm, các đầu ngón tay và móng tay có mầu máu ứ bầm hơi đen tím như chì mà tây y tìm không ra bệnh, thỉnh thoảng nhói đau giữa ngực và bên vú phải, tây y đã khám vú không tìm ra nguyên nhân, chụp bàn tay ngón tay không tìm ra nguyên nhân, đi chuyên khoa thần kinh bác sĩ muốn mổ bàn tay.

Tôi dùng máy oximeter GO2 đo 5 ngón tay có số đo như sau :

Ngón cái : 95% oxy, mạch 66 (viết tắt 95/66) có nghĩa oxy đủ 95, số nhịp mạch 66 là hàn, có nghĩa thiếu máu đến ngón tay nên ngón tay lạnh, vì tiêu chuẩn chỉ tốc độ mạch máu chạy từ 70-80 lần/phút là tốt, không nóng không lạnh.

Ngón trỏ : 95/70 tốt

Ngón giữa : 98/65 oxy đủ, máu thiếu ở đầu ngón tay, nên đầu ngón tay lạnh (65) tê đau, đông y gọi là mạch hàn..

Ngón áp út : 97/72 tốt

Ngón út : 92/0 máu không tuần hoàn đủ mạnh để sensor bắt được tốc độ tuần hoàn của mạch, phải chờ đến 2 phút sau mới hiện ra mạch 60, đầu ngón tay này lạnh cứng có mầu máu bầm tím..

Nhìn con số, chúng ta biết được ngón cái, ngón giữa và ngón út bị bệnh.

Đối với đông y khí công, đo oximeter ở các ngón tay trái, tay phải hay các ngón chân trái chân phải có ý nghĩa khác nhau : 1-Đo ở ngón tay cái :

a-Bên trái chỉ chức năng phổi trái : Nếu phổi trái khỏe, không bệnh, thì oxy 100%, khi bị bệnh phổi bên trái làm ho, khó thở, suyễn, đau tức, trong phổi có bướu ung thư, có đàm…làm khó thở thì oxy dưới 90% hay nặng thì dưới 80%.

b-Bên phải cũng vậy, nhưng cả hai bên đều 90% trở lên thì còn tốt, nhưng bên này mạnh hơn thì bên phổi đó nhiều oxy hơn, bên nào thấp hơn thì phổi bên đó yếu hơn.

Nếu hút thuốc làm nám phổi bên nào thì bên đó có thể dưới 90, mà bên kia vẫn trên 90, vẫn còn thở được, và nếu vào bệnh viện được y tá đo ở ngón giữa trên 90 là đã định bệnh sai lầm, không thấy được bệnh ở phỏi bị yếu,

c-Cả hai lá phổi bệnh, đo dưới 90 là khó thở, thở dồn dập, nhịp mạch nhanh trên 100, khi chụp hình không có dấu hiệu bệnh phổi, chỉ thiếu khí làm suyễn.

Còn nhiễm trùng hô hấp, tràn dịch màng phổi hay ung thư phổi… có người cần trợ thở oxy vì cả hai phổi đều dưới 90 làm suy tim, nếu đo ở ngón giữa cũng dưới 90 mớiI được bác sĩ cho dùng máy trợ thở. Nếu không may, ngón tay giữa được y tá hay bác sĩ đo thấy trên 90, thì không được dùng máy trợ thở, trong khi phổi thiếu oxy dưới 90 mà bác sĩ không đo để biết, nên bệnh nhân dễ tử vong, trong lúc chờ đợi các bác sĩ xem kết qủa của những xét nghiệm y khoa mà chưa tìm ra nguyên nhân.

d-Trường hợp đặc biệt, cơ thể bệnh nhân khỏe mạnh, thở dễ, chỉ đau cánh tay, vai và tê ngón tay cái, không ho, chụp phổi không có bệnh, cho bệnh nhân thử nghiệm thổi hơi thật mạnh thật sâu vào máy đo số lượng oxy trong phổi vẫn đủ 5 lít oxy, trong khi kẹp máy đo vào ngón tay cái thì máy không báo oxy, mà chỉ báo đèn đỏ chớp chớp, nên bác sĩ khám không biết bệnh gì, nhưng thật ra bệnh này rất nguy hiểm gây tê liệt hay nhồi máu cơ tim chết bất đắc kỳ tử. Tại sao ?

Vì chức năng của máy là đo sự thẩm thấu oxy trong máu chạy qua sensor mà nó bắt được. Trong trường hợp máy không bắt được, chứng tỏ máu không chạy đến, không có chuyển động, mà đứng im, nên máy không bắt được, do đó mà bệnh nhân bị tê ngón tay như kiến bò, kim chích, hay tê buốt lạnh đầu ngón tay, mầu sắc đầu ngón tay và móng tay tím bầm…,đó là do thần kinh ngoại biên bị co thắt khi áp huyết tăng cao.

Cách chữa của KCYĐ là châm nặn máu đầu ngón tay cho máu lưu thông, khi nặn được ra máu đỏ loãng thì đo oxy ở đầu ngón tay trỏ đó sẽ tăng lên trên 90. 2-Đo ở ngón thứ hai đường ruột :

Ít có ai biết công dụng khi đo ngón thứ hai.

a-Ngón tay trỏ bên trái :

Chỉ chức năng của trực trường có co bóp đẩy phân ra tốt hay xấu, làm táo bón hay tiêu chảy, nếu táo bón thì số thứ hai của máy đo oximeter chỉ nhịp tim thì được gọi là nhịp mạch trực trường, nếu cao hơn 80 là nhiệt, táo bón, nếu thấp dưới 70 là hàn sẽ bị tiêu chảy, còn máy không chỉ thì không có nghĩa là trực trường, mình sẽ hỏi bệnh nhân ngón tay này có bị tê đau nhức không, nếu có là máu không thông đến đầu ngón tay, bị tắc mạch có hay nguyên nhân, nguyên nhân do cao áp huyết làm thần kinh ngoại biên bị co thắt gây đau nhức tay vai cánh tay, bàn tay ngón tay, thì châm nặn máu ở huyệt Thương Dương cho đến khi máu ra loãng đỏ tươi, khi do lại oximeter sẽ hiện số, nguyên nhân thứ hai do thiếu máu không chạy đến đầu ngón tay, thì cả cánh tay nhừc mỏi đau, và đo áp huyết thấp, ngón tay bấm bẻ vô lực, thì ngâm tay vào nước nóng ấm pha bột gừng cho đến khi nước nguội, rồi đo lại oximeter máy sẽ hiện số thấp dưới 90 nhưng không bị ngộp thở hụt hơi và không phải thiếu oxy trong phổi, nhịp mạch chỉ dưới 70 là do hàn lạnh, vì thế mà phải ngâm bàn tay vào nước nóng ấm pha gừng.

Khi đầu ngón tay trỏ cứng, sưng đau, đo oximeter có hai trường hợp, máy không chỉ do máu tắc nghẽn ở đầu ngón tay lâu ngày, bệnh nhân tưởng đau thấp khớp chỉ uống thuốc chữa vào thần kinh để giảm đau, còn chỗ có bệnh là đầu ngón tay không được chữa càng ngày càng bị thoái hóa khớp gọi là thống phong, thấp khớp, trường hợp máy có chỉ hiện ra hai số SpO2 chỉ phần trăm thẩm thấu oxy đủ, nhưng số thứ hai ở bên phải máy chỉ nhịp tim cao, có nghĩa nhịp mạch đập ở ngón này nhanh trên 100 là ứ huyết, các ống máu trương phình, nhìn ngón tay thấy sưng nóng đỏ đau.

Trường hợp máy không chỉ, nhưng đo áp huyết ở cánh tay trái, máy áp huyết bơm nhồi 2-3 lần, hỏi bệnh nhân xem thỉnh thoảng có cơn đau thoáng qua ở giữa tim ngực hay không, vì khi đau nhói giữa tim ngực nghiêng về bên trái là do van và động mạch bên trái tim bị nghẽn máu cục, cholesterol kết tủa, nên phải châm vào chỗ đau giữa ngực thường ở huyệt Chiên Trung hay bên cạnh phía trái do bệnh nhân chỉ vào A-Thị-Huyệt, rồi nặn máu, và châm ở huyệt Thương Dương nặn máu, rồi đo lại áp huyết sẽ xuống, máy đo áp huyết không còn bị nhồi nữa, và đo lại ngón tay trỏ trái bằng máy đo oximeter sẽ hiện ra số.

b-Ngón trỏ tay phải :

Chỉ chức năng co bóp của toàn kinh đường ruột.

Về áp huyết, nếu cao thì thần kinh ngoại biên co rút gân, thần kinh cứng làm đau vai tay, ngón tay, bàn tay, cổ gáy, hay cholesterol kết tủa ở ngực khi bị cơn nhói tim thoáng qua, lúc đó áp huyết tăng cao, nhưng đo oximeter vẫn có hai trường hợp là oxy chỉ có thể 100, nhưng nhịp tim ở đây là nhịp đập của mạch ở ngón tay trỏ này nhanh đến hơn 100, hoặc có thể máy không chỉ, do máu ứ nghẽn không có chuyển động, máy không bắt được, nên khi châm nặn máu sẽ tắc không ra máu, nặn tiếp ra máu đen đặc, tiếp nữa có thể lại không ra máu, nhưng bỗng nhiên máu phun ra thành tia rồi ngưng, nặn tiếp mới ra máu loãng đỏ tươi. Lúc đó đo áp huyết sẽ hạ, máy đo hết bị nhồi, nếu máy còn nhồi thì lại châm nặn máu tiếp, nếu nặm máu nhiều lần mà máy vẫn nhồi nhiều lần, kết qủa đo áp huyết vẫn cao, thì có nghĩa tất cả các ống máu tắc nghẽn ở tim, khi áp huyết cao, khí lực đẩy bơm máu mạnh làm áp huyết tăng cao hơn 190 đến 240 thì bị tai biến mạch máu não, nếu may mắn không bị tai biến thì sẽ bị vỡ mạch máu mũi thành chảy máu cam nhiều cả 100cc, thì thoát được tai biến mạch máu não nhưng vẫn còn nguy cơ đột qụy do nhồi máu cơ tim, nếu 4 trong 6 ống mạch tim bị tắc nghẽn đầy cholesterol kết tủa, tây y bắt buộc phải giải phẫu tim làm stent, cắt bỏ những ống mạch tắc nghẽn thay bằng những ống tĩnh mạch được mổ lấy ở bắp đùi phía trong đem lên thay thế, tuy nhiên gốc bệnh là cholesterol kết tủa chưa được ngăn ngừa do ăn nhiều chất béo, lười vận động, thì các mạch máu đó vẫn bị tắc nghẽn trở lại.

Muốn tránh khỏi mổ tim cần phải áp dụng hai bài thuốc : Ăn soupe Đậu Thận Trắng (white kidney bean) 100g + 100g tép tỏi còn vỏ, 2 lít nước, đun nhỏ lửa lâu 2 giờ cho chín nhừ và cạn còn dưới 1 lít, rồi gắp bỏ vỏ tỏi vất đi, còn lại xay bằng máy xay sinh tố thành bột lỏng như súp, ăn thay bữa cơm chiều, tối uống thuốc lọc máu độc trong gan bằng lá Phan Tả Diệp thiên nhiên (naturel) có bán ở tiệm thuốc tây dưới dạng thuốc viên tên Senna Laxatif, để sáng hôm sau đi ra nhiều phân đen là những độc tố, làm tan mỡ kết tủa quanh tim, mỡ trong máu, hạ áp huyết, giảm mập mỡ bụng, mềm gan, thông tim….áp dụng hai bài này mỗi ngày, trong 1 tuần, sẽ thấy bụng nhỏ, tiêu mỡ, áp huyết tâm thu xuống còn dưói 130, tâm trương đang cao trên 100 cũng xuống còn dưới 90, và nhịp tim đang nhanh trên 120 cũng xuống dưới 80, tất cả 3 số đều lọt vào tiêu chuẩn đúng với lứa tuổi.

Còn trường hợp chỉ đau một bên cánh tay vai hay ngón tay, và đo máy không bị nhồi, là bệnh nhân đang có áp huyết bên cánh tay đó cao, như áp huyết bên trái thuộc chức năng bao tử yếu, thức ăn không chuyển hóa làm áp huyết cao, theo khí công, khi áp huyết cao làm các dây thần kinh ngoại biên bị co thắt gây đau nhức vai, tay, cánh tay, bàn tay đau.

Nặng hơn nữa là thỉnh thoảng bệnh nhân có cơn đau tim nơi giữa ngực thoáng qua, đó là do cholesterol kết tủa vón cục bám chung quanh thành mạch tim, muốn biết điều này, khi chúng ta đo áp huyết thường bị máy bơm nhồi 2-3 lần mớiI cho ra kết quả lúc cao lúc thấp.

Muốn chữa khỏi đau tay vai, tê ngón tay, đau nhói tim do cholesterol, cần phải làm hạ áp huyết, và cho máu thông ra đến đầu ngón tay, thì thần kinh ngoại biên hết co thắt. Châm huyệt giữa tim ngực ở huyệt Chiên Trung nặn máu, châm huyệt Thương Dương đầu đường kinh Đại Trườg góc móng tay trỏ nặn máu thấy máu không ra thì ngón tay tê nhức, khi máu ra có mầu đen là máu ứ lâu ngày, khi máu đặc là huyết sắp hóa vôi gây đau khớp ngón tay, khi ra máu lẫn mầu vàng mỡ là máu có cholesterol, khi máu ra đỏ tươi loãng thì tuần hoàn máu ra đến đầu ngón tay kinh mạch được thông. Lúc đó đo lại áp huyết sẽ xuống thấp. Khi áp huyếr ở tay nào xuống thấp thì thần kinh ngoại biên ở tay đó được thư giãn hết làm căng đau tức sẽ hết bệnh đau tay vai, lúc đó dùng máy đo oxy ở đầu ngón tay trỏ se thấy máu tuần hoàn oxy lên từ 90-100 %. 3- Đo ở ngón tay giữa :

Tây y cũng không để ý khi đeo sensor ở ngón giữa tay trái và tay phải khác nhau, chỉ cần miễn sao oxy trên 90 thì tốt. Nhưng về kinh mạch, ngón tay giữa bên trái chỉ chức năng động mạch khi máu ra khỏi tim, bên trái là chức năng tĩnh mạch đưa máu về tim. Khi chức năng tim khỏe thì hai ngón tay bằng nhau, khi bị hở van tim, trái hoặc phải thì oxy mỗi ngón tay khác nhau.

Vì công dụng của máy oxymeter đo sự tuần hoàn của máu thông hay tắc, nếu thông thì đo các đầu ngón tay chân đều hiện ra số, chỉ khác là ngón nào thấp thì đường kinh của ngón đó bị bệnh, cần phải châm nặn máu và làm cho máu lưu thông ra các ngón tay bằng bài tập Vỗ Tay 4 Nhịp, cho máu xuống đến các ngón chân bằng bài tập Vỗ Đập Chân, Dậm Chân Phía Trước Phía Sau/Chachacha, và quan trọng hơn hết để chữa bệnh tê đau tay chân lưng gối do máu không tuần hoàn thì tắm nước nóng ấm pha 3 muỗng canh Bột Gừng, ngâm ngập người cho đến khi nước nguội thì lúc đó cả thân người và tứ chi ấm áp hết đau, lúc đó đo oximeter 5 ngón tay chân đều có hiện số trên 90, là do máu dễ tuần hoàn thông được đến đầu ngón tay chân.

Trường hợp có hiện ra số nhưng từ 85-90% thì chứng tỏ cơ thể thiếu máu, mặc dù tắm ngâm nước gừng bệnh đau nhức có đỡ nhưng không thể khỏi hẳn nếu cơ thể không có đủ máu tuần hoàn, cần phải uống thêm thuốc bổ máu như chích B12 và nuớc biển hay thuốc bắc là Sirop Bổ Hư Thang, cho đến khi tắm ngâm nước gừng xong đo oximeter, tất cả 10 đầu ngón tay chân lên từ 90-100/70-80 mới khỏi bệnh hoàn toàn.

Tây y không để ý phân biệt được bệnh ở hai ngón tay cái và ngón tay giữa khi đo có kết qủa khác nhau., nên đôi khi bệnh nhân bị chết oan trong tình trạng cấp cứu tại bệnh viện.

Theo kinh mạch đông y, các mạch âm dương giao nhau tại đầu ngón tay ngón chân, và ngón tay cái là kinh phế chủ về hơi thở, nếu một người không thở được như suyễn, thiếu oxy, thì ngón tay cái báo hiệu thiếu oxy, nếu oxy ngón tay cái đủ, thì các ngón khác thiếu oxy là thiếu oxy tuần hoàn trong máu chứ không phải thiếu oxy trong phổi, nên bệnh nhân vẫn thở bằng phổi được, mặc dù các ngón khác thấp hơn dưới 90.

Kinh nghiệm thực tế, ai cũng biết, những bệnh nhân khi đo ngón tay cái có phần trăm oxy thấp dưới 90, thường gặp ở bệnh nhân đang ngộp thở như suyễn, khó thở, phải được đeo máy trợ thở oxy, khi được trợ thở bằng cách đeo mask vào mũi miệng thì hơi thở rất êm, hơi thở không còn thở gấp dồn dập, và trước khi chưa đeo máy trợ thở, phần trăm oxy mà máy đo được dưới 90, có người 70% hay 60%, và nhịp mạch đập rất nhanh trên 100 đến 120, có khi cao hơn, nhưng sau khi được đeo máy trợ thở oxy, thì % oxy tăng lên 92-95, nhịp mạch sẽ đập chậm xuống, bệnh nhân cảm thấy khỏe.

Nhưng có trường hợp, có ngưòi đeo máy trợ thở oxy, mà ngón cái thuộc phổi đo trên 90 %, có nghĩa phổi tự thở đủ oxy, thì chúng ta nghe thấy tiếng xì xì thoát oxy ra ngoài không vào mũi bệnh nhân, nên bệnh nhân vẫn bị mệt, và % oxy trong cơ thể không tăng, các bác sĩ không hiểu tại sao, những trường hợp này chữa không có kết qủa, tại sao vậy ?

Nếu một bác sĩ học thêm châm cứu về kinh mạch, sẽ biết ngay lý do tại sao. Vì 5 ngón tay có 6 đường kinh :

Ngón tay cái thuộc kinh phổi, ngón tay thứ hai ngón trỏ, thuộc kinh ruột già, ngón tay thứ ba giữa thuộc kinh tâm bào (động mạch tĩnh mạch tim), ngón thứ tư thuộc kinh tam tiêu là những ống dẫn khí huyết đi ba vùng thượng tiêu, trung tiêu, hạ tiêu, ngón tay út có hai đường kinh, bên trong là kinh tim, bên ngoài là kinh ruột non.

Như vậy, nếu phổi thiếu oxy thì đeo sensor ở ngón tay cái sẽ thấy % oxy thấp, thì chỉ có ngón này mới cần trợ thở bằng máy oxy, khi bệnh nhân được tiếp oxy bằng máy, thì sẽ giảm cơn suyễn, hơi thở không bị dồn dập mà thở êm nhẹ nhàng, còn nếu đo ở ngón này oxy chỉ từ 90-100 thì phổi không cần oxy, nhưng đo ở ngón giữa thấp hơn 90 là tim thiếu oxy trong khi phổi đủ oxy, do đó phổi vẫn thở được, nên oxy của máy vào mũi bị hơi thở trong phổi đẩy ra mũi miệng, nên chúng ta nghe tiếng xì xì xì xì là thừa, trong khi đó tim vẫn bị mệt, vì tim thiếu oxy, tây y không có cách nào khác là cứ truyền oxy.

Tây y không đo oxy ở những ngón tay khác, thậm chí không đo ở các ngón chân nên không biết được hết công dụng của máy khám định bệnh bằng oximeter.

Khi cả 5 ngón tay đều thiếu oxy, đương nhiên tây y cho dùng máy trợ thở cho oxy tối đa 100% nhưng khi máy còn chạy, bệnh nhân còn sự sống, khi buông máy ra thì cơ thể lại không có oxy, nên khi chúng ta có người thân đang nằm trong bệnh viện được trợ thở bằng máy, được bác sĩ và y tá giải thích là máy chạy giúp bệnh nhân 30%, 50% còn bệnh nhân tự thở 50%, còn trường hợp nan y, máy chạy 100%, bệnh nhân không tự thở được, nếu máy còn chạy để giúp duy trì tuần hoàn khí huyết giữ sự sống cho bệnh nhân trong thời gian tìm ra nguyên nhân bệnh và được trị liệu đúng. Nếu bỏ máy, bệnh nhân không tự thở, máu mất oxy, phần trăm oxy xuống thấp, mất oxy nuôi não, bệnh nhân sẽ chết dần trong đau đớn. Trong trường hợp này các bác sĩ không tìm ra bệnh và không chữa được, thường đề nghị người nhà bệnh nhân nên bằng lòng chích morphin để giảm đau cho bệnh nhân chết dần trong tình trạng ngủ say như hôn mê để có một giấc ngủ ngàn thu không kịp trăn trối lời nào.

Trong trường hợp tây y chữa khỏi khi nào máy trợ thở được giảm dần xuống 30, 20, 10% và tắt máy, bệnh nhân tự thở 90% trở lên là tốt. Oxy vẫn đủ duy trì sự sống, cho đến khi tự thở được 100% là khỏi bệnh. 4- Đo ở ngón áp út :

a- Đo ở ngón này, nếu chỉ ở ngón này thấp dưới 90%, mà các ngón khác trên 90% thì củng không ảnh hưởng hơi thở, nhưng nó có ý nghĩa cục bộ là máu không ra đầu ngón tay, chúng ta biết là máu không tuần hoàn ra ngón tay, nên tay bị rút gân cơ co cứng, sẽ bị tình trạng ngón tay này hay bị kẹt khớp, khi gấp ngón vào, nhưng tự nó không mở ra được, tây y phải mổ nơi gân sưng ở lòng bàn tay.

b-Có thể bên ngón áp út hai bên tay giống nhau hay khác nhau, bên tay phải đối với đông y chỉ về Khí của tam tiêu, bên tay trái thuộc Huyết của tam tiêu, nếu dưới 90% có nghĩa là một trong ba vùng tam tiêu như thượng tiêu liên quan đến tim, phổi, trung tiêu liên quan đến gan mật tỳ vị, hạ tiêu liên quan đến ruột, thận, bàng quang. Nếu có dấu hiệu thấp dưới 90 mà cục bộ ngón tay không đau, không bị kẹt khớp ngón, thì nó cần phải khám thêm ở những ngón tim, phổi, gan mật, tỳ vị, thận, ruột, bàng quang.... 5-Đo ở ngón út :

a-Đo oximeter ở ngón út cũng chỉ để biết máu có thông ra đến đầu ngón tay hay không. Còn muốn chính xác đo kinh mạch thì ở ngón út có hai đường kinh, bên cạnh ngoài ngón út là kinh Tâm, bên cạnh trong là kinh Tiểu Trường, lại phải dùng Máy Nonin với sợi dây sensor đo huyệt, ở 2 huyệt Thiếu Xung kinh Tâm, và Thiếu Trạch kinh Tiểu Trường.

6-Đo ở các ngón chân :

Tây y không bao giờ đo oxy ở các ngón chân cũng là một thiệt thòi cho bệnh nhân, vì bệnh ở chân cũng gây biến chứng cho tim mạch, phổi, gan, bao tử. Có thể sau khi chữa khỏi những bệnh ở chân thì cũng gián tiếp giúp bệnh tim mạch sẽ bớt.

Khi cả 5 ngón chân có nhịp mạch từ 100-120 là toàn thể ống tĩnh mạch chân giãn nở do hở van tĩnh mạch, thì ở chân đã giữ lại một lượng máu đáng kể làm chân sưng phù nặng nề, tạo thành thấp nhiệt làm nóng trong chân, sẽ hủy hoại tế bào da chân….và số máu này không trở về tim đủ nên tim phải đập nhanh, khiên van tim bị hở, dễ bị nhồi máu cơ tim.

Ngược lại khi cả 5 ngón chân có nhịp mạch thấp dưới 60 là máu tuần hoàn xuống chân yếu thì chân và ngón chân lạnh, nếu SpO2 chỉ % oxy thấp dưới 90, thì các tế bào bắp chân không đủ oxy nuôi dưỡng sẽ teo dần.

a-Ngón chân cái :

Ở ngón chân cái, ngoài việc đo để biết máu có chạy ra đến đầu ngón chân không, nếu có sẽ hiện lên số, và chỉ phần trăm oxy qua ngón chân SpO2 và nhịp đập của mạch.

Thí dụ SpO2 chỉ 80% thì ngón chân này thiếu máu tuần hoàn, nhịp mạch 60 thì ngón chân này lạnh, có mầu máu tím bầm, nếu nhịp mạch 90 trở lên thì ngón chân này nóng, nếu nhịp mạch trên từ 100-120 thì các tĩnh mạch của ngón này giãn nở làm hở van tĩnh mạch.

Đo ngón chân cái bên phải gồm 2 đường kinh Tỳ và Gan, nhưng liên quan đến chức năng gan là chính, còn đo oxy ở ngón chân cái bên trái cũng gồm 2 đường kinh Tỳ và Gan, nhưng liên quan đế chức năng Tỳ là chính. Còn muốn đo chính xác của từng đường kinh, dùng dây sensor đo huyệt Ẩn Bạch ở Kinh Tỳ, đo huyệt Đại Đôn ở Kinh Can, chúng ta sẽ thấy kết qủa 2 số đo khác nhau, chứng tỏ lý thuyết về kinh mạch đông y có thật, chứ không phải mơ hồ.

Nếu oxy thấp dưới 90 chứng tỏ không đủ máu đến đầu ngón chân, còn trên 90 là máu có đến đầu ngón chân. Số nhịp mạch tiêu chuẩn phải giống như nhịp tim từ 70-80 là tốt, không hàn không nhiệt. Nhưng số nhịp mạch cũng quan trọng, nếu nhịp mạch lớn hơn 100 thì ngón chân nóng, lớn hơn 120 chân và ngón chân bị sưng đỏ, phù nề, do ống tĩnh mạch giãn nở, nếu nhịp mạch dưới 60 thì ngón chân lạnh, thấp hơn nữa thì chân đau tê lạnh cứng do gân co rút.

b-Ngón chân thứ hai :

Ngón chân thứ hai bên trái thuộc cơ sở bao tử, và bên phải thuộc chức năng bao tử..

c-Ngón chân thứ ba liên quan đến kinh Thận.

d-Ngón chân thứ tư liên quan đến kinh Đởm (mật), bên trái thuộc chức năng, bên phải thuộc cơ sở.

e-Ngón chân thứ năm ngón chân út liên quan đến kinh Bàng Quang. Nếu một người đang bị cao áp huyết, mà đo ngón chân út này không hiện lên số, chứng tỏ máu trong đường kinh Bàng Quang không xuống chân, nhất là trong trường hợp đang bị tai biến mạch máu não do áp lực khí đẩy máu lên đầu làm đứt mạch máu não. Đường kinh Bàng Quang thôntg với đầu não.

Tai biến mạch máu não có hai trường hợp : Khi máu đỏ bơm lên đầu quá mạnh do áp lực khí tăng thì vỡ mạch máu não.

Khi máu đỏ bơm lên đầu mà các ống tĩnh mạch bị tắc nghẽn không trở về tim cũng làm vỡ mạch máu xuất huyết não.

Nên muốn cấp cứu làm hạ áp huyết, đông y châm nặn máu huyệt Chí Âm ngón út của kinh Bàng Quang thuộc một trong thập nhị tĩnh huyệt chân, hay châm vào giữa đầu ngón chân út, là một trong huyệt Thập Tuyên, để cho thông máu ống tĩnh mạch để hạ áp lực khí trên đây giảm.

Khi đo oxy ở 5 ngón chân, nhất là số đo ở ngón chân út không hiện số, thì máu không lưu thông ở chân này, thì những người bị cao áp huyết có nguy cơ tai biến đứt mạch máu não có tỷ lệ tử vong cao hơn là những người có số đo oxy và mạch ở ngón chân út, và khi chữa cấp cứu để làm hạo áp huyết trên não, cũng dễ chữa và phục hồi sự sống cho bệnh nhân nhanh hơn với những bệnh nhân đang hôn mê do tai biến mà châm nặn máu ở ngón chân út không ra máu, do đó những bệnh nhân bị bệnh cao áp huyết nên có một máy đo oximeter để đo oxy và mạch ở các đầu ngón tay chân để biết tình trạng bệnh và cách phòng ngừa tai biến mạch máu não.

Khi đo cả 5 đầu ngón tay ngón chân, số oxy ngón phổi 90-92, các ngón khác từ 60-80, nhịp mạch không có, hay dưới 60, là cơ thể thiếu máu tuần hoàn, dễ bị bệnh ung thư, còn khi đã hoặc đang bị bệnh ung thư thì có thêm áp huyết thấp dưới 80mmHg, còn có nguy cơ ung thư khi áp huyết khoảng 80-90mmHg, nhịp tim dưới 60, hay 50 chân tay lạnh. Trước đó có dấu hiệu đau nhức tê đầu ngón tay chân, do đó khi đo oximeter ở đầu ngón tay chân chúng ta đã biết trước.

Có thể giúp máu lưu thông giảm đau bằng cách giã 300-500g gừng tươi, nấu với 2 lít nước cho sôi, rồ đổ vào bồn tắm pha với nước nóng ấm, nằm ngâm ngập người, lưng, tay chân bụng, cho đến khi nước nguội, đứng dậy lau khô người, không cần tắm lại với savon hay tráng lại nước. Cách này giúp máu lưu thông tuần hoàn ra đến đầu ngón tay chân, giúp ấm toàn thân và tứ chi, lúc đó đo oxy sẽ đủ từ 90-100 ra tay chân, nhịp mạch sẽ hiện ra từ 60-80, lúc đó đo áp huyết vẫn thấp, thì hủ cần ăn uống những thức ăn bổ mau, trong 6 tháng, áp huyết sẽ tăng dần đúng tiêu chuẩn tuổi, và cứ tắm nước gừng mỗi ngày hay mỗi tuần, cho máu thông toàn thân, và bắt đầu tập toàn bài thể dục khí công thì ngăn ngừa được bệnh ung thư.

Đông y khí công có 5 huyệt làm tăng oxy cho từng tạng phủ :

a-Ấn huyệt Nhân Trung làm tăng oxy cho não duy trì sự sống cho một người bị ngất xỉu.

Tôi đi trên Metro (xe điện ngầm), bỗng nhiên nghe tiếng người kêu gọi có người té xỉu, và họ kéo cần cấp cứu báo cho tài xế dừng toa xe, lại, tôi quay lại thấy hai người đang làm hô hấp nhân tạo cho cô gái này, tôi thấy mặt cô tái dần, thân người mềm nhũn. Tôi nói tiếng Pháp cho họ biết nên bấm huyệt cứu mạng tiếp oxy cho não, nếu không kịp bơm oxy cho não, cô ấy sẽ chết. Hai thanh niên này hô hấp nhân tạo có bài bản, có lẻ cũng là một người của tây y, họ không tin tôi và họ không chịu làm, tôi thấy nếu để chậm cô ấy sẽ chết, tôi xông tới và nói các ông cứ làm việc của các ông, tôi chỉ để nhẹ tay vào huyệt này để tiếp oxy cho não, nếu không cô ấy sẽ thiếu oxy não sẽ chết. Tôi chỉ để tay nhẹ lên huyệt Nhân Trung chừng 1 phút, cô ta tỉnh dần và mở mắt, rồi ngồi dậy, tôi buông tay, và nói lớn cho những người chung quanh biết, đây là huyệt châm cứu tên là huyệt cứu mạng cho những người té xỉu do ngộp thở, thiếu máu và thiếu oxy lên não. Hai thanh niên buông tay ngưng làm hô hấp, tôi thấy hai anh cũng để ngón tay của mình lên huyệt Nhân Trung của mình xem có gì lạ mà nạn nhân này khỏi. Tầu điện dừng lại, chờ xe cấp cứu bệnh viện đến, hai thanh niên này đưa cô ra khỏi toa xe, rồi xe điện mới chạy đi tiếp.

b-Huyệt Hạ Quan hai bên má giúp tăng oxy cho tim, khi van tim bị hở hay hẹp không co bóp để tiếp nhận oxy, nếu đo máy oximeter ờ ngón tay út hay ngón tay giữa sẽ thấy oxy thấp, nhịp mạch thấp, sau khi gõ vào huyệt này thì số đo sẽ thay đổi.

c-Huyệt Chiên Trung tiếp oxy cho tim phổi.

d-Huyệt Trung Phủ tiếp oxy cho phổi.

e-Huyệt Trung Quản tiếp oxy cho bao tử khi thức ăn trong bao tử đầy tức làm nghẹn khó thở. 7-Kinh nghiệm khám bệnh :

Trường hợp 1 :

Đã có một bệnh nhân cơ thể gầy yếu, hay bị té xỉu trong nhà, người nhà gọi xe cứu thương đi bệnh viện, tây y không tìm ra bệnh mà bệnh càng ngày càng suy nhược, không ăn hay nuốt được, chân tay co cứng, bác sĩ cho truyền thức ăn lỏng qua mũi..

Khi thân nhân mời tôi đến bệnh viện để khám. Bệnh nhân mắt nhắm, khi mở mắt thì thất thần, mắt không có hồn, bác sĩ để máy kẹp oxy vào ngón tay giữa chỉ 92, mạch 120, bàn tay nóng, cánh tay lạnh, đo áp huyết 108/55mmHg, nhịp tim cao 123. Đối với bác sĩ thì áp huyết vẫn tốt, chỉ bị mạch nhanh, nhưng không biết làm sao để giảm mạch xuống thấp.

Những kết qủa trên cho thấy, đây là trường hợp bệnh nhân sắp chết vì ba lý do :

Tôi đo oximeter vào ngón tay cái SpO2 chỉ 86%. là phổi thiếu oxy, trong khi đo ở ngón tay giữa từ 90-92%. tây y cho là tốt, không cần trợ thở oxy, đó là một sai lầm, còn nhịp mạch nhanh do cơ thể thiếu máu nên nhịp tim phải đập nhanh để đủ tuần hoàn cho những chức năng tạng phủ làm việc, KCYĐ gọi là áp huyết giả, nếu đổi sang áp huyết thật đối với người khỏe thì nhịp tim tiêu chuẩn 75, có nghĩa bệnh nhân này có nhịp tim phải đập nhanh hơn 48 lần, lấy áp huyết 108 trừ đi 48, thì áp huyết thật còn 60mmHg, là áp lực khí yếu không giúp máu tuần hoàn được, hơi thở thoi thóp như ngọn đèn dầu sắp tắt, trong khi đo oximeter ở các ngón chân, có ngón hiện 80% oxy, có ngón không hiện % oxy, những các ngón không hiện ra nhịp mạch chạy, có nghĩa là máu ở chân không chạy nữa, chân lạnh, cứng, số máu này không còn về tim được, người mệt lả dần, thiếu oxy, lịm dần như người ngủ say, khi lay chân tay, để đánh thức bệnh nhân dậy, thì bệnh nhân mở hé mắt nhìn rồi lại nhắm mắt, bệnh nhân đang ở ranh giới sống chết, lay người thì thấy có sự sống, không lay thì đang chết dần. Bác sĩ họp người nhà bệnh nhân đề nghị rút ống thức ăn được truyền vào mũi, để tiễn bệnh nhân sang bên kia thế giới, vì không còn có thể chữa được nữa.

Trường hợp 2 :

Có bệnh nhân đến phòng mạch của tôi, chân đi nặng nề, rất đau đớn, đi lết từng bước chậm, bệnh nhân khai đau chân, đau phía trong đầu gối bên trái, dĩ nhiên thầy chữa đã trông thấy tướng đi là đau chân, nhưng cần phải biết nguyên nhân khí huyết tuần hoàn ở chân ra sao mới chữa đúng gốc bệnh được.

Tôi đo oxy ở các ngón chân bên phải, oxy từ 90-98, mạch 70-80, chứng tỏ chân phải tốt, bên ngón chân bên trái, ngón cái oxy 88, mạch 60, ngón thứ hai kinh Vị không hiện số, ngón thứ ba kinh Thận 80/60, ngón thứ tư 92/71, ngón chân út 91/69. Như vậy bệnh do kinh Can, Tỳ ở ngón cái, và ngón kinh Thận.

Tôi cho bệnh nhân nằm úp, dùng dầu bôi trơn vuốt dọc theo đường kinh Can, Tỳ, Thận, đến đoạn trên bắp chuối, qua nhượng chân, qua huyệt Âm Cốc, Ủy Trung, Ùy Dương, Âm Lăng Tuyền, Khúc Tuyền, Ân Môn, bệnh nhân bị đau, có một đoạn vuốt qua từ Ủy Trung lên Ân Môn có chùm gân co cứng to bằng ngón tay cái, và đoạn từ Thừa Sơn lên Ủy Trung cũng có một đoạn gân co cứng, chỉ khi vuốt trên từng đường kinh mới có cảm giác được, vì bi co cứng do gân co rút làm tắc nghẽn khí huyết đưa máu xuống các ngón chân, vì thế mà máy đo oxy không bắt được, và khi bệnh nhân nằm úp cũng không gẩp đầu gối cho gót chân chạm mông được.

Sau khi vuốt, châm nặn máu a-thị-huyệt, vỗ đập chân, đo lại oximeter, đã hiện ra số nhưng còn dưới tiêu chuẩn. Tuy nhiên bệnh nhân đã cảm thấy bớt đau, đi lại được, nhưng bệnh nhân khai đi có nhẹ hơn nhưng còn nhức ở hai đoạn gân co cứng.

Tôi bảo cô về nhà tắm ngâm người trong nước tắm gừng, ngày hôm sau tái khám, cô đã đi nhanh nhẹn. Vuối huyệt lần thứ hai, châm nặn máu a-thị-huyệt do cô khai, rồi gấp bẻ gót chân vào mông, đo oximeter, đã hiện số lọt vào tiêu chuẩn, và cô đã đi đứng nhanh nhẹn hơn, không còn bị đau căng tức.

Trường hợp 3 :

Một bệnh nhân khai bị bệnh Parkinson, khi bước vào phòng mạch, tôi trông thấy bàn tay trái hơi run giật. Đông y khám bệnh bằng nhìn (vọng), đo oximeter ở ngón tay thứ tư thuộc kinh Tam Tiêu oxy thấp dưới 90/60, các ngón tay còn lại trên 90/70, như vậy bệnh nằm ở đường kinh tam tiêu, theo đông y bệnh ở tam tiêu là bệnh của một trong ba vùng tam tiêu là thượng tiêu thuộc tim, phổi, trung tiêu thuộc gan mật, tỳ vị, hạ tiêu thuộc đường ruột thận, bàng quang.

Theo tây y, Parkinson do thần kinh trên não bộ tắc nghẽn, theo đông y thì kinh Tam Tiêu liên hệ nối với kinh Đởm cung cấp khí cho kinh Can điều tiết khí huyết tuần hoàn thần kinh gân cơ, mà kinh Đởm có chạy lên đầu, thường tắc ở huyệt Thừa Linh. Tôi dùng dây sensor đo huyệt dọc theo đường kinh Đởm trên đầu, chỗ nào cũng hiện lên số oxy và mạch, trừ huyệt Thừa Linh máy đo không hiện số.

Tôi dùng kim thử tiểu đường châm nặn máu ở huyệt Thừa Linh, đo lại oxy, số oxy hiện lên 92/70, thì thấy bàn tay hết run giật.

Bệnh nhân cũng ngac nhiên thấy có kết qủa tức thời, ông hỏi tôi, bệnh run giật này có hết luôn không ? Tôi trả lời : Ông đã biết nguyên nhân tại điểm thần kinh này bị tắc, ông phải tập 7 bài đầu khí công chỉnh thần kinh, tập các bài thể dục khí công khác, ăn uống tẩm bổ máu, uống Vit.B-12 tăng cường máu não, vì áp huyết của ông thấp không đủ máu lên nuôi não, cần phải tập bài Cúi Ngửa 4 Nhịp để cung cấp máu lên nuôi não, thì bệnh sẽ khỏi.

Ngược lại nếu Parkinson do áp huyết cao làm tắc huyệt Thừa Linh, thì châm kinh Đởm vừa ở huyệt Thừa Linh, vừa làm hạ áp huyết bằng cách châm nặn máu ở huyết ngón chân thứ tư kinh Đởm là huyệt Túc Khiếu Âm, và ngón út Chí Âm thuộc kinh Bàng Quang để làm hạ áp huyết.

Trường hợp 4 :

Những phụ nữ trên 40 tuổi hay bị bệnh Đau Nhức Thần Kinh Gân Cơ (Fibromyalgie), đối với tây y bệnh này không chữa khỏi, chỉ dùng thuốc giảm đau, đối với KCYD chia làm hai loại, loại áp huyết cao, loại áp huyết thấp.

Loại áp huyết cao, đo oxy các đầu ngón tay ngón chân từ 90-100/80-100 thì châm nặn máu 10 đầu ngón tay chân, tập toàn bài thể dục khí công, bài Kéo Ép Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng 1000 lần mỗi ngày, uống 5 viên Phan Tả Diệp (Senna Laxatif) trong 3 tối để giải độc máu trong gan, hạ áp huyết. Mỗi tối trước khi đi ngủ, tắm ngâm nước lạnh 30 phút. Đã có một bà bệnh nhân người tây hỏi tôi, nếu tôi áp dụng theo phương pháp của ông mà đêm nay tôi vẫn còn đau, ông có thể cho tôi xin số điện thoại nhà riêng để tôi gọi cho ông không.

Theo KCYĐ chữa bệnh phải điều chỉnh Tinh-Khí-Thần. Bây giờ bà ấy hỏi số phone, nếu mình không cho, tức là mình không tin vào phương pháp của mình, thì bệnh nhân làm sao mà tin lời mình nói. Tôi nói : Sẵn sàng. Qua một hai đêm bà ấy không gọi phone, sau 1 tuần tái khám, bà ta đã khỏi bệnh đau nhức thần kinh gân cơ. Như vậy yếu tố Thần cũng quan trọng, giúp bệnh nhân mau lành bệnh.

Loại áp huyết thấp, đo oxy từ 80-92, riêng ngón phổi từ 90-95, mạch 60-70, cần uống Vit.B12, tắm nước gừng buổi tối.

Trường hợp 5 :

Một bệnh nhân bị bệnh ung thư phổi thời kỳ cuối, tây y bỏ không thể chữa được nữa. Trường hợp này thì bệnh nhân có cơ may sống sót, và có thể sống lâu kéo dài được sự sống hơn những người đang điều trị. Như kinh nghiệm của KCYD, tây y hay đông y bất cứ chữa theo cách nào, dù cổ điển hay tân tiến hiện đại, bệnh ung thư chỉ khỏi khi cơ thể đủ khí huyết được đo bằng máy đo áp huyết lọt vào tiêu chuẩn tuổi theo khí công :

Tuổi từ 0-1 áp huyết 70-90/51 mmHg mạch 110-160, hơi thở 30-40 hơi/1 phút Tuổi từ 1-2 áp huyết 80-95/58 mmHg mạch 100-150, hơi thở 25-35 hơi/1 phút

Tuổi từ 2-5 áp huyết 80-100/58 mmHg mạch 95-140, hơi thở 25-30 hơi/1 phút

95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.( 5 tuổi-12 tuổi)

100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi – 17 tuổi)

110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)

120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Nếu trong thời gian đang trị liệu mà áp huyết bệnh nhân cứ từ từ tụt thấp bằng tuổi thiếu nhi, rồi tụt thấp hơn trẻ em 1 tuổi, thì sẽ phải bye bye thế giới này sang, để làm trẻ em ở thế giới khác.

Nên việc ưu tiên bổ máu nuôi các tế bào lành, làm mạnh tế bào lành, giảm đau đưa máu đi nuôi khắp toàn thân và ra đến đầu ngón tay chân. Trong người những bệnh nhân này không có oxy ra đến đầu ngón tay chân, trừ ngón tim và phổi để duy trì sự sống, và nhịp mạch rất cao từ 120-140 do thiếu máu, đó là bệnh hư chứng vì đầu ngón tay chân và sờ ngoài cơ thể thì lạnh, những bệnh nhân lại cảm thấy trong người nóng, khô môi miệng, còn bệnh thực chứng thì mạch trên 90 sờ tay chân nóng, bệnh nhân đang bị sốt do máu nhiễm trùng.

Ngược lại, nếu nhịp tim trên 120 thay vì nóng nhưng sờ tay chân lạnh là do thiếu máu áp huyết qúa thấp không đủ máu và đủ khí để đẩy máu đi nuôi toàn thân, nên nhịp tim phải đập nhanh.

Dù đang chữa theo phương pháp nào, mà nhịp tim qúa nhanh như thế bệnh nhân sẽ bị thở gấp đứt hơi mà chết trước khi được chữa khỏi tế bào ung thư.

Đối với KCYD, ưu tiên bổ máu, tập luyện hơi thở, điều chỉnh hơi thở cho nhịp tim chậm lại, bảo tồn nguyên khí bằng bài tập thở, kiểm soát hơi thở ở Đan Điền Thần, giúp nóng ấm cơ thể, giúp khí huyết ra đến đầu ngón chân tay cho ấm, đo oxy phải hiện lên số lọt vào tiêu chuẩn 90-95/70-80.

Sở dĩ bệnh nhân ung thư bị đau đớn hành hạ do khí huyết không lưu thông, gân cơ thần kinh co rút, teo ống mạch, teo thần kinh, cần phải tắm ngâm nước gừng giúp thư giãn gân cơ thần kinh, giúp máu dễ tuần hoàn để đo được oxy ở đầu ngón tay chân. từ đó biết đường kinh nào đã hồi phục, đường kinh nào còn bệnh do thiếu hay do tắc nghẽn.

Nếu đang áp dụng uống thuốc bổ máu tây y, ăn thức ăn bổ máu, áp huyết tăng dần thì sự sống được duy trì, nếu hơi thở gấp dồn dập, phải đo oxy ở ngón tay cái, xem ngón tay cái bên trái hay bên phải thiếu oxy dưới 90 làm phổi thiếu oxy không thở được, trong khi các ngón khác lại trên 90, mà tây y không để ý oxy ở ngón cái, nên xin cho đeo bình oxy cá nhân phục hồi tăng cường thêm oxy cho phổi, khi phổi đủ oxy thì không còn thở gấp làm mệt tim, lúc đó cứ từ từ tập luyện hơi thở, ăn chất bổ máu, uống thuốc bổ máu, uống nước củ dền đỏ.

Bệnh ung thư phổi không nên nói nhiều làm mất khí, ngược lại phải tập cho cơ thể nạp khí bằng cách thở ở Đan Điền Thần liên tiếp 2000 lần vào buổi sáng, 2000 lần vào buổi chiều, cuốn lưỡi ngậm miệng, thở bằng mũi tự nhiên, gần như không cần hít thở, chỉ cần lắng nghe dưới mỏm xương ức nơi Đan Điền Thần, nơi đặt hai bàn tay chồng lên nhau, xem bụng có nóng không, có sôi bụng không, bàn tay ấm chưa, tự nhiên cảm thấy thở thông, nhẹ nhàng dễ chịu, sức nóng do luyện thở làm cơ thể rịn mồ hôi, đầu ngón tay chân ấm, đo oxy thấy lên từ 90-98/120. Khi cơ thể đủ máu, mạch xuống dần từ 70-80 và áp huyết đo trở lại lọt vào tiêu chuẩn tuổi là khỏi bệnh.

Những người bị bệnh ung thư nên kiêng kỵ, không được ăn những chất chua, làm phá mất máu, mất hồng cầu, tụt áp huyết.

Trường hợp 6 :

Nhờ máy oximeter, chúng ta cũng khám phá ra những nguyên nhân khác gây ra bệnh.

Một người đo oximeter các ngón tay, ngón chân từ 92-98/120, trừ ngón chân út bên trái chỉ đo được 66/110. Khi khám bệnh, nhìng con số này chúng ta định bệnh ra sao ?

a-Khi đo oximeter là biết tình trạng cục bộ :

Mạch 110 là nhịp mạch nhanh, nếu sờ đầu ngón chân út nóng thì gọi là mạch nhiệt, còn nếu sờ ngón chân út lạnh, thì cục bộ thiếu máu, nên mạch tim đẩy máu đi nhanh, nhưng vì không đủ máu nên số oxy chạy qua sensor thấp 66.

b-Biết tình trạng ở đường kinh :

Đó là bệnh ở kinh Bàng Quang bị tắc ứ ở trên đường kinh chạy lên đầu, có nghĩa là nửa bên đầu tráu bị thiếu máu, bị đau, đi sẽ nghiêng đầu và thân người về bên phải. Muốn biết điều này, chúng ta dùng 5 đầu ngón tay gõ vào đầu bên trái, chúng ta sẽ thấy khi gõ thì đèn hiệu trên sensor khi thì đèn đỏ, khi thì đèn vàng, khi thì đèn xanh, và con số thay đổi.

Khi day huyệt Phong Trì để thông máu lên não hay cào đầu, bệnh nhân hết đau đầu và cổ gáy, thì sensor bắt được oxy trong máu chạy ra đầu ngón chân út hiện lên số 91/120.

c-Biết được cơ sở thuộc bọng đái :

Thiếu máu nên nhịp mạch 110-120 là thiếu máu, ngoài lạnh trong nóng, thiếu máu đông y gọi là âm hư, trong nóng, đông y gọi là nội nhiệt, nên khi đi tiểu nóng rát.

Trường hợp 7 :

Dùng sensor đo huyệt ở hai huyệt Toản Trúc hai bên mắt, nếu thấy khác nhau thì thị lực hai mắt khác nhau.

Hoặc đo ở huyệt Nhĩ Môn, Thính Cung trước hai bên tai, nếu hai kết qủa khác nhau, chênh lệch nhiều, bên thấp bên cao, chúng ta cũng biết ngay bên tai nào bệnh, tai nào không bệnh. Máy không hiện ra số, cần phải lau da cho da đủ độ ẩm, rồi lau khô mới để sensor lên huyệt, nhưng bên nào không hiện số, thì bên tai đó điếc.

Chúng ta cũng có thể đo ở huyệt Đại Chùy, Phong Trì, Phong Phủ, Chiên Trung, Trung Quản, Khí Hải, Trung Cực, Tam Âm Giao... hoặc nhiều huyệt khác để khám phá ra nhiều bệnh. Nhưng cần phải phối hợp với máy đo khí huyết là máy đo áp huyết, máy đo đường, và Nhiệt Kế. Chúng ta sẽ nghiên cứu về cách khám bệnh bằng máy đo nhiệt kế ở bài sau.

Thân

doducngoc

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Ăn Uống Cân Bằng

http://baomai.blogspot.com/

BaoMai

Hội nghị quốc tế về sức khoẻ ở Victoria (Úc) đưa ra một tuyên ngôn gồm có ba vấn đề : ăn uống cân bằng, vận động có ôxy và trạng thái tâm lý tốt , hoàn toàn giống với tư tưởng thiền . Giáo sư y khoa Tề Quốc Lực ( người Mỹ gốc Hoa , đã từng làm việc cho tổ chức y tế thế giới -WHO nhiều năm) triễn khai ba vấn đề trên như sau :

Ăn uống cân bằng.

Lâu nay nhiều người nghĩ rằng việc giữ gìn sức khỏe thì có gì mà phải lo lắng , chẳng qua ngủ sớm dậy sớm thì người sẽ khoẻ mạnh chứ gì. Xin thưa với bạn, cách đây một trăm năm thì có thể nói vậy được, chứ ngày nay nói vậy thì thật là thiếu hiểu biết, có nhiều điều đã thay đổi.

Nói ăn uống cân bằng là nói hai chuyện : ăn và uống.

Thức uống

Ở các hội nghị quốc tế người ta đã định ra 6 loại đồ uống bảo vệ sức khỏe:

- Trà xanh;

- Rượu vang đỏ;

-Sữa đậu nành;

-Sữa chua (nên chú ý , người ta không nói sữa bò);

-Canh xương;

- Canh nấm.

Canh nấm có thể nâng cao công năng miễn dịch. Một văn phòng có người luôn bị cảm, có người không ốm bao giờ, vì sao vậy? Vì công năng miễn dịch khác nhau. Uống canh nấm có thể nâng cao sức miễn dịch, cho nên đó là sản phẩm giữ gìn sức khỏe.

Trong canh xương có chất uyển giao (một chất keo), uyển giao kéo dài tuổi thọ . Ðừng coi thường canh xương .

Sữa chua duy trì cân bằng vi khuẩn , có nghĩa là vi khuẩn có ích thì sinh trưởng, vi khuẩn có hại thì tiêu diệt, cho nên ăn sữa chua thì có thể ít mắc bệnh. Ở châu Âu, sữa chua rất phổ biến, nhiều cô gái chúng ta thích ăn sữa chua, nhưng họ không hiểu vì sao. Ở các xứ Á châu, lượng tiêu thụ sữa chua rất thấp, còn lượng tiêu dùng sữa bò lại rất lớn. Bản thân sữa bò, tất nhiên không phủ định tác dụng của nó, nhưng nó kém xa sữa chua.

Trà xanh . Ngày nay rất nhiều người biết uống trà, nhưng thanh niên ít uống. Vì sao trà xanh có tác dụng bảo vệ sức khỏe?

Thứ nhất trong trà xanh có chứa chất trà đà phân , mà trà đà phân có thể chống ung thư. Nhật Bản làm một cuộc tổng điều tra rất tốt. Sau tổng điều tra, họ nói người trên 40 tuổi chẳng ai không có tế bào ung thư trong cơ thể. Vì sao có người mắc ung thư, có người không? Điều này có liên hệ tới việc uống trà xanh. Nếu anh uống mỗi ngày 4 chén trà xanh, thì tế bào ung thư không chia cắt, mà dù có chia cắt cũng muộn lại 9 năm trở lên. Cho nên ở Nhật Bản, học sinh tiểu học hàng ngày đi học đều uống một vài chén trà xanh.

Thứ hai xin chú ý, trong trà xanh có chứa fluor, nó chẳng những có thể làm bền răng, mà còn chữa được sâu răng, diệt vi khuẩn. Sau bữa ăn 3 phút, đốm khuẩn răng đã xuất hiện. Hiện nay rất nhiều người chúng ta răng không tốt, chẳng những không súc miệng bằng nước trà, mà nước trắng cũng không, vì thế nên có người mới 30 tuổi đã bắt đầu rụng răng, 50 tuổi thì rụng hết.

Thứ ba, bản thân trà xanh chứa chất trà cam ninh , chất này nâng cao độ bền huyết quản, khiến huyết quản khó vỡ. Rất nhiều người bị mạch máu não bất ngờ , trong bệnh viện cứ 4 người chết thì có 1 người xuất huyết não. Xuất huyết não thì chưa có cách chữa, kỵ nhất là tức giận, hễ tức giận đập bàn trợn mắt, mạch máu não đứt ngay. Các vị ạ, đến tuổi các vị nên uống sớm đi, đến lúc các vị có đập bàn trợn mắt vàicái thì cũng không lo.

Rượu vang đỏ .

Vốn là trên vỏ quả nho đỏ có một thứ, gọi là nghịch chuyển thuần (cồn chuyển ngược). Chất này có tác dụng chống suy lão, còn là thuốc chống ôxy hóa, người hay uống vang đỏ thì ít mắc bệnh tim.. Nó còn có thể giúp ta phòng ngừa tim đột nhiên ngừng đập, chúng ta gọi là ngừng đột ngột. Trong trường hợp nào tim có thể ngừng đập?

Một là có bệnh tim, hai là tăng huyết áp, ba là mỡ máu cao. Mỡ máu cao nguy hiểm ở chỗ nào? Tim có thể đột nhiên ngừng đập. Có một chàng trai 20 tuổi, máu của cậu ta lấy ra có dạng bùn, hết sức nguy hiểm. Hỏi cậu ta, cậu ta bảo ăn nhiều chất bổ quá. Không phải cậu ta ăn đồ bổ nhiềun quá mà là ăn quá bất hợp lý.

Rượu vang đỏ còn có một tác dụng nữa là hạ huyết áp, hạ mỡ máu. Vang đỏ có mấy tác dụng lớn như thế, nên ở nước ngoài bán rất chạy. Nhiều người sẽ hỏi: chẳng phải cấm rượu sao? Tổ chức y tế thế giới nói rằng cai thuốc lá, hạn chế rượu , chứ có nói cấm rượu đâu, hơn nữa còn nói rõ hạn lượng rượu: rượu vang nho mỗi ngày không quá 50-100cc, rượu trắng mỗi ngày không quá 5-10cc, bia mỗi ngày không quá 300cc. Nếu anh vượt quá khối lượng đó thì sai lầm, không quá lượng đó thì tốt.. Có một nữ sĩ hỏi: Tôi không biết uống rượu thì làm thế nào? Chị không biết uống rượu, há lại không biết ăn nho sao? Ăn nho há lại không thể ăn cả vỏ sao? Nhưng nho trắng không có nghịch chuyển thuần , bạn ăn cũng vô ích. Bây giờ ở châu Âu đã có bánh ngọt bằng nho đỏ rồi. Nho đỏ rửa sạch đi mà ăn, nuốt cả vỏ rất thích, chả sao cả. Cho nên người có tiền uống vang đỏ, người không có tiền ăn nho đỏ không bỏ vỏ đều giữ được sức khỏe như nhau. Còn có người bắt bẻ . Tôi không có tiền thì làm thế nào? Xin nói với các bạn, ở hội nghị quốc tế người ta đã điều tra rồi, các khu vực trường thọ trên toàn thế giới đều ở vùng ít tiền, đều là những vùng nghèo. Như vậy thì có lạ không? Kẻ có tiền ngày ngày nhậu nhẹt tiệc lớn nhỏ, gà vịt thịt cá, thì đều bụng phệ, bằng đầu bằng đuôi , những người như vậy rất ít người sống được quá tuổi 65.

Thức ăn

Mọi người đều biết rằng ngũ cốc, đậu và rau là rất tốt. Người ta nói Mac Donald là thực phẩm rác, vì nó là một loại thực phẩm kích thích lệch, hậu quả là người bằng đầu bằng đuôi, cứ như một bó hành lý.

Người ta sợ ăn vì ăn xong lại phải đi giảm béo. Chúng ta nên biết đó là thức ăn kích thích lệch, không phù hợp với tập quán ẩm thực của con người.

*Các loại cốc :

Ngô ( bắp)

Ở các hội nghị quốc tế người ta xưa nay không nói đến gạo, bột mì trắng, cũng không nói Mac Donald. Trong loài cốc trước tiên nói đến ngô, gọi đó là cây vàng . Lai lịch của ngô, hội y học Mỹ đã có điều tra phát hiện rằng người Mỹ nguyên thủy, người Indian không ai bị tăng huyết áp, không ai xơ vữa động mạch. Là do họ ăn ngô. Về sau phát hiện ra trong ngô già có chứa nhiều chất noãn lân chi nên không xảy ra tăng huyết áp và xơ vữa động mạch. Từ đó về sau, nước Mỹ đã thay đổi, châu Mỹ, châu Phi, châu Âu, Nhật Bản, Hồng Kông, Quảng Châu của Trung Quốc, sáng đều ăn bánh ngô. Bây giờ nhiều người ăn noãn lân chi để làm gì?

Chính là hy vọng không bị xơ vữa động mạch.. Nhưng họ không biết rằng trong ngô già có rất nhiều, không phải tốn tiền nhiều.

Kiều mạch (Oats)

Tại sao nhắc đến kiều mạch? Người ta hiện nay thường có ba cao , là huyết áp cao, mỡ máu cao, đường máu cao. Kiều mạch là ba hạ , hạ huyết áp, hạ mỡ máu, hạ đường máu. Trong kiều mạch có chứa 18% cellulose, người ăn kiều mạch không bị viêm dạ dày đường ruột, ung thư trực tràng, ung thư kết tràng . Trong số những người ngồi văn phòng mắc bệnh, có đến 20% là ung thư trực tràng, ung thư kết tràng.

Yến mạch (Rolled Oats , thị trường dưới nhãn hiệu Quaker Oats )

Nếu bị tăng huyết áp, nhất định phải ăn yến mạch, cháo yến mạch, yến mạch.

Các loại khoai

Khoai lang trắng, khoai lang đỏ, củ từ, khoai tây. Những thứ này các hội nghị quốc tế đã nhắc đến. Vì sao? Vì chúng nó có ba hấp thu : hấp thu nước, hấp thu mỡ và đường, hấp thu độc tố. Hấp thu nước, làm trơn đường ruột, không bị ung thư trực tràng, ung thư kết tràng. Hấp thu mỡ và đường, không mắc bệnh tiểu đường. Hấp thu độc tố, không mắc chứng viêm dạ dày, đường ruột. . Mong mọi người ăn nhiều khoai vào, trong lương thực chính nên có các loại khoai lát. Nó có thể hạ huyết áp, hạ mỡ máu.

Kê (Millet : hạt nhỏ nhưng lớn hơn hạt mè)

Bản thảo cương mục nói rất rõ: Kê có thể trừ thấp, kiện tỳ, trấn tĩnh, an miên, (ngủ yên); ích lợi lớn như thế mà anh không ăn? Bây giờ rất nhiều người ngồi văn phòng, đêm mất ngủ, mắc các chứng ức uất, chứng chức năng thần kinh, có người uống đến 8 viên thuốc an thần vẫn không ngủ được. Cứ ăn cháo kê là tinh thần phấn chấn, tối một bát cháo kê, ngủ khò khò. Chữa bệnh bằng ăn tốt hơn chữa bệnh bằng thuốc.

Vì sao chúng ta không giải quyết vấn đề bằng cái ăn, mà cứ nhất định phải dùng thuốc! Mười thứ thuốc thì chín thứ là độc, chưa từng nghe nói dùng thuốc để giữ gìn sức khỏe. Cần phải nói rõ: không nên uống thuốc bừa bãi, chỉ dùng thuốc trong thời gian ngắn, nếu bớt bệnh rồi thì nhanh chóng ngừng thuốc.

Ðậu

Đậu nành là hoa của dinh dưỡng, là vua các loại đậu. Trong đậu nành có ít nhất 5 loại chất chống ung thư, đặc biệt là di hoàng đồng, chất này có thể phòng và chữa ung thư tuyến vú, ung thư trực tràng và ung thư kết tràng. Cho nên đối với người da vàng chúng ta thì thích hợp nhất là sữa đậu nành.

Sữa bò tốt hay sữa đậu nành tốt? Ở hội nghị quốc tế của Liên Hợp Quốc người ta nói, trong sữa bò có nhiều nhũ đường, mà hai phần ba số người trên thế giới không hấp thu được nhũ đường, người da vàng ở châu Á có 70% số người không hấp thu được nhũ đường. Sữa đậu nành có ưu điểm gì?

Trong sữa đậu nành chứa quả đường, quả đường hấp thu 100%.

Rau:

Cà-rốt

Sách Bản thảo cương mục của Trung Quốc viết đó là loại rau dưỡng mắt.

Tối nhìn không thấy, đặc biệt là chứng quáng gà, ăn là khỏi. Nó bảo vệ niêm mạc, ăn cà-rốt lâu ngày thì ít bị cảm mạo. Người Mỹ cho cà-rốt là thứ rau làm đẹp người, dưỡng tóc, dưỡng da, dưỡng niêm mạc. Người thường xuyên ăn cà-rốt quả là đẹp từ trong ra ngoài. Khái niệm đẹp người này phải là trong ngoài hài hòa. Nhiều cô gái của chúng ta mắc lừa, các cô ấy son phấn vào còn dễ coi, đến khi bỏ son phấn đi còn khó coi hơn ban đầu.

Người Mỹ rất chú ý điều này, họ ăn cà-rốt đều. Thứ nhất, nó dưỡng niêm mạc, ít bị cảm mạo. Thứ hai, nó đẹp khỏe mạnh. Thứ ba, nó có chút tác dụng chống ung thư, hơn nữa rất tốt cho mắt. Châu Âu đã có bánh ngọt cà-rốt. Ở nhiệt độ cao, chất bổ trong cà-rốt không bị giảm sút.

Bí đỏ

Nó kích thích tế bào tụy, sản sinh insulin. Cho nên người thường xuyên ăn bí đỏ rất ít mắc bệnh tiểu đường. Trong các loại rau còn cần nhắc đến khổ qua (mướp đắng). Tuy nó đắng, nhưng nó tiết ra insulin, người thường ăn mướp đắng cũng không bị tiểu đường. Bí đỏ, khổ qua, người ở lứa tuổi chúng ta nhất định phải ăn luôn.

Cà chua

Ở Mỹ, hầu như gia đình nào cũng trồng cà chua, ăn cà chua, mục đích là để khỏi mắc ung thư. Đó là điều mới được biết đến 5, 6 năm nay. Ăn cà chua không mắc bệnh ung thư, bạn đã biết chưa? Nhưng không phải ăn cà chua một cách tùy tiện. Trong cà chua có một chất gọi là chất cà chua, nó kết hợp chặt với protein làm một, xung quanh có cellulose bao bọc, rất khó ra. Cho nên phải làm nóng lên, nóng đến mức nhất định, nó mới ra được. Xin mách các bạn, cà chua xào trứng gà là đáng giá nhất.

Và canh cà chua, hoặc canh trứng gà cà chua cũng rất tốt. Cà chua ăn sống không chống được ung thư, xin mọi người nhớ cho.

Tỏi

Tỏi là vua chống ung thư. Có người nói ngay: cái món đó phải ăn nóng.

Sao cái gì bạn cũng muốn ăn nóng? Xin thưa với các bạn: tỏi đun nóng lên thì là 0! Có một người Sơn Đông, rất thích ăn, cứ bóc từng nhánh mà ăn, còn nói rằng ăn tỏi không bị ung thư, nhưng chẳng mấy chốc anh ta bị ung thư trước. Nguyên nhân là gì? Xin thưa các vị, trước hết phải thái nhánh tỏi thành từng lát, để từng lát trong không khí độ 15 phút, sau khi nó kết hợp với dưỡng khí mới sản sinh ra chất tỏi (đại toán tố). Bản thân tỏi không chống được ung thư, đại toán tố mới chống ung thư, hơn nữa là vua chống ung thư. Hôm nọ tôi thấy có người ăn tỏi, anh ta lấy một bát mì, rồi nhanh chóng bóc tỏi ra, ăn từng nhánh tỏi, không đầy 5 giây đồng hồ đã ăn xong. Thậm chí không đến 5 giây! Ăn như vậy không có ích gì hết. Nếu sợ tỏi có mùi, thì ăn một quả sơn tra, nhai nắm lạc rang, hoặc ăn chút lá chè là hết mùi ngay. Ở nước ngoài tuần nào người ta cũng ăn, sao chúng ta lại không ăn!

Mộc nhĩ đen (nấm mèo).

Mộc nhĩ đen có tác dụng gì? Bây giờ cứ đến Tết, người chết vì nhồi máu cơ tim ngày một nhiều, càng ngày càng có nhiều người chết trẻ, thậm chí ở cả tuổi 30! Vì sao đến Tết chết nhiều? Có 2 nguyên nhân, một là máu đặc cao ngưng thể chất , tức là mỡ máu cao. Các vị nhớ cho, người máu đặc gọi là cao ngưng thể chất .

Người cao ngưng thể chất cộng thêm thức ăn cao ngưng, cho nên vào dịp Tết người chết vì nhồi máu cơ tim đặc biệt nhiều, không kể tuổi nào.

Chết nhồi máu cơ tim tuy không có cách gì chữa được, nhưng hoàn toàn có thể dự phòng. Có bác sĩ khuyên bạn uống aspirin, vì sao? Có thể khiến máu không đặc, không bị nhồi máu cơ tim. Nhưng hậu quả là gì?

Hậu quả của việc uống nhiều aspirin là đáy mắt xuất huyết. Bây giờ rất nhiều người xuất huyết đáy mắt. Như vậy không nên uống aspirin nữa.

Hiện nay ở châu Âu không uống aspirin nữa rồi. Vậy thì làm thế nào? -

Ăn mộc nhĩ đen.

Mộc nhĩ đen (nấm mèo) có hai tác dụng, trong đó có một là khiến máu không đặc lại. Tác dụng này của mộc nhĩ đen là do một chuyên gia bệnh tim của Mỹ phát hiện, ông ta đã đoạt giải Nobel. Sau khi ông ta phát hiện, tất cả người châu Âu, người có tiền và có địa vị đều ăn mộc nhĩ đen, chứ không uống aspirin nữa. Người như thế nào là cao ngưng thể chất ? Xin trả lời là người thấp, to, béo đặc biệt là phụ nữ ở thời kỳ chuyển đổi tuổi. Hơn nữa người thuộc nhóm máu AB càng dễ bị máu đặc cao ngưng. Và cổ càng ngắn thì càng dễ bị. Thứ nhất là đừng ăn đồ biển nhiều, thứ hai nên uống một ít trà ngon, hoạt huyết tiêu ứ; thứ ba là nhất thiết chớ tức giận, hễ tức giận là máu đặc lại. Uống rượu trắng cũng dễ đặc máu, muốn uống thì uống vang đỏ, không quá 100ml. Nếu cho anh ăn lạc (Đậu phọng), nhất thiết đừng ăn, mà có ăn thì bóc vỏ đi. Có người hỏi: Cái vỏ lụa ấy chẳng phải có dinh dưỡng sao? Ai nói vậy, xin nói với các vị, vỏ lạc không có dinh dưỡng, nó chỉ có thể trị huyết ngưng phiến, nâng cao huyết tiểu bản, dùng để cầm máu. Người trung niên và người già chúng ta không nên ăn. Và xem tivi phải chú ý, tivi hay thì xem một lát, tivi dở thì đừng xem. Vì sao? Vì ngồi lâu, độ ngưng huyết sẽ lên cao. Người lùn, to, béo, không có cổ, lại đang thời kỳ chuyển đổi tuổi, lại nhóm máu AB ăn đồ biển bừa bãi, rồi lại tức giận, lại uống rượu trắng, xong rồi ăn lạc không bóc vỏ, người như vậy mà không chết vì nhồi máu cơ tim, thì là điều lạ ...

Phấn hoa (Pollen : chỉ bán trong các tiệm dược thảo).

Tổng thống Reagan từng một lần bị bắn trọng thương, lại đã một lần bị u ác tính, ông ta đã cao tuổi như vậy vẫn sống khỏe, chỉ có điều mắc chứng lú lẫn của người già. Chính là phấn hoa đã có tác dụng rất lớn cho cơ thể ông. Bây giờ ở châu Âu, châu Mỹ đều thịnh hành phấn hoa. Võ Tắc Thiên đã ăn phấn hoa, Từ Hi thái hậu cũng ăn phấn hoa.

Mọi người đều biết, phấn hoa là tinh tử của thực vật, nó thai nghén sự sống, dinh dưỡng rất phong phú, là cái tốt nhất trong thực vật. Cổ đại đã có rồi, nhưng chúng ta quên mất. Các vị đừng mua phấn hoa ở ngoài phố, phấn hoa bán ngoài phố có vỏ cứng, chưa phá vách. Phá vách cần có xử lý khoa học kỹ thuật cao. Thứ hai, phấn hoa mọc dại, dễ ô nhiễm, phải sát trùng. Thứ ba, nó là protein, phải thoát mẫn. Phấn hoa phải có 3 điều này mới dùng được: xử lý, tiêu độc, thoát mẫn. Phấn hoa ở

Nhật Bản được dùng nhiều lắm, ở tuổi nào cũng dùng nó để làm đẹp.

Người mẫu ở Pháp không ai không dùng. Tài liệu ghi chép cho biết, tỷ lệ chữa bệnh của phấn hoa là 97%. Nếu dùng phấn hoa chữa không khỏi thì thuốc cũng không giải quyết được, cuối cùng công năng thận suy kiệt, đái ra máu, rồi u thận. Cho nên phải chữa trị sớm chứ đừng chờ đến công năng thận suy kiệt. Lại còn chứng rối loạn đường ruột, phụ nữ mắc nhiều, bí đái có tính chất tập quán. Rất nhiều người uống thuốc đi ngoài mà mắc ung thư trực tràng, ung thư kết tràng. Phấn hoa có một tên gọi là cảnh sát đường ruột, sau khi ăn phấn hoa, cảnh sát có thể duy trì trật tự đường ruột. Thứ ba là nó làm đẹp khỏe mạnh, duy trì thể hình. Ba tác dụng lớn của phấn hoa không thể coi thường.

Thức ăn động vật

Người ta nói ăn động vật bốn chân, không bằng ăn con hai chân, mà ăn con hai chân không bằng ăn con nhiều chân. Nếu trong bữa ăn có cả thịt lợn và thịt dê thì ăn thịt dê; có thịt dê và thịt gà thì ăn thịt gà, có gà và cá thì ăn cá, có cá và tôm thì ăn tôm. Đó không phải là làm khách. Động vật càng nhỏ thì protein càng tốt.

Dinh dưỡng học đại chúng chỉ xem con vật to hay nhỏ; đem phân tử thức ra thì người ta không hiểu. Chưa nói con chuột. Ở hội nghị quốc tế người ta nói protein của bọ chét là tốt nhất. Con bọ chét, đừng thấy nó nhỏ, nó có thể nhảy cao hơn 1 mét, anh có tin không.. Nếu phóng đại nó lên bằng cơ thể con người, thì nó có thể nhảy lên đến mặt trăng ấy chứ! Cho nên đã có mấy bác sĩ Mỹ đang nghiên cứu làm thế nào ăn được bọ chét.

Bây giờ tổ chức WHO đề nghị mọi người ăn nhiều gà và cá. Vậy sao không khuyến nghị ăn tôm? Không phải là không khuyến nghị, mà là tôm đắt quá, khó phổ cập. Nếu có tôm, thì ăn tôm là tốt. Vài con tôm đủ nhiều protein hơn là ăn đầy một bụng thịt bò.

Cá thì dễ phổ cập hơn. Protein của cá một giờ là hấp thu được, tỷ lệ hấp thu là 100%, còn protein thịt bò phải 3 tiếng đồng hồ mới hấp thu được. Cá đặc biệt thích hợp cho người già nhất là người cơ thể suy nhược. Tất nhiên là tôm còn tốt hơn cá. Quốc tế đã điều tra, vùng tuổi thọ nổi tiếng nhất toàn thế giới là Nhật Bản, vùng tuổi thọ của Nhật

Bản là ven biển, mà ven biển tuổi thọ cao nhất là địa phương ăn cá.

Đặc biệt là ăn cá bé, tôm bé, nên nhớ phải ăn cả con cá ( cả đầu lẫn đuôi), vì có chất hoạt tính, mà chất hoạt tính thì ở đầu và ở bụng cá bé, tôm bé. Đấy là khoa học, chứ không phải mua cá cứ chọn con to là tốt.

Còn một nguyên tắc ăn nữa là ăn phải nắm vững lượng, chứ không phải ăn càng nhiều càng tốt. Trên quốc tế có quy định: ăn no 7 phần 10, suốt đời không đau dạ dày, ăn 8/10 là tối đa, nếu ăn no 10/10 thì 2/10 kia vô ích. Cho nên quốc tế khuyến nghị tỷ lệ vàng là 0,618: lương thực phụ 6, lương thực chính 4; lương thực thô 6, lương thực tinh 4; thực vật 6, động vật 4. Cân bằng vật chất có một quy luật . Trẻ sinh ra cho đến 5 tháng ăn sữa mẹ là tốt nhất, ngoài 5 tháng sữa mẹ cũng không đủ, cần thêm 42 loại thức ăn trở lên. Người ta đến tuổi già lại càng khó.

May thay có một bác sĩ người Pháp tên là Climent, khi du lịch sang châu Phi thấy người ở hồ đầm lớn châu Phi khỏe mạnh sống lâu hơn chúng ta. Họ ăn cái gì? Ăn rong biển, phơi khô rồi làm bánh bao ăn, sau đó uống canh rong biển.

Bác sĩ ấy đem về Paris thí nghiệm, thì ra là rong biển, rong xoắn ốc. Rong xoắn ốc này phát hiện năm 1962, phát hiện này làm xôn xao cả thế giới. Vì sao? Một gam nó bằng 1..000 gam tổng hợp tất cả các loại rau, dinh dưỡng đặc biệt phong phú, rất toàn diện, phân bố dinh dưỡng rất cân bằng, hơn nữa là thức ăn kiềm tính. Ở Nhật Bản mỗi năm họ tiêuthụ 500 tấn rong xoắn ốc, họ đi du lịch sang Trung Quốc người nào cũng mang theo. 8 gam rong xoắn là có thể duy trì sự sống 40 ngày. Ngoài ra nó rất quan trọng đối với một số bệnh như tim mạch, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, tiểu đường...

Ưu điểm lớn nhất của rong xoắn là khiến cho bệnh nhân tiểu đường không bị biến chứng, có thể ăn uống như người bình thường. Bệnh nhân tiểu đường thiếu năng lượng, lại không được ăn đường, rong xoắn là đường khô, hấp thu đường khô vào là có năng lượng. Bệnh nhân tiểu đường, đường máu không ổn định, sau khi dùng rong xoắn có thể dần dần ngừng thuốc, sau đó dần dần ngừng rong xoắn, cuối cùng khống chế bằng ăn mềm. Đối với bệnh viêm dạ dày, loét dạ dày, rong xoắn có chất diệp lục, có tác dụng khôi phục đối với niêm mạc dạ dày.

Rong xoắn còn có tác dụng phòng bức xạ. Khi trạm điện hạt nhân của Liên Xô bị nổ, chuyên gia Nhật Bản đi cứu, mang theo rong xoắn, tác dụng chống bức xạ của nó rất mạnh. Nhưng có mấy cách có thể dự phòng: thứ nhất là uống trà xanh; thứ hai là ăn rau xanh, cà rốt; thứ ba là ăn rong xoắn; thứ tư ăn tảo phục khang. Tảo phục khang là tốt nhất.

Tùy theo điều kiện kinh tế của mình mà chọn lấy một cách, thực sự không được thì ăn rau xanh, cà rốt. Bức xạ thì ai cũng có thể tiếp xúc. Quốc tế đã từng cảnh cáo: nhất thiết chớ để đồ điện trong phòng ngủ. Nhất là lò vi sóng đối với chúng ta nguy hại lớn nhất, trong vòng 7 mét nó có thể bức xạ đến chúng ta. Và các loại đồ điện không nên mở cùng một lúc. Vừa có tivi, vừa có tủ lạnh, lại vừa có lò vi sóng, bạn làm thức ăn ngay bên cạnh, thì mắc bệnh ung thư là không oan uổng gì.

Vận động có ôxy

Có một kinh nghiệm thành nguyên tắc, là nhất thiết đừng tập luyện sáng sớm. Xin khuyến nghị các vị tập luyện vào chiều tối. Các nhà khoa học đã quy định, ăn xong 45 phút sau hãy vận động. Mà người già vận động thì đi bách bộ là được, chỉ cần đi 20 phút.

Muốn giảm béo không dùng phương pháp này, nửa giờ đến một giờ trước bữa cơm, ăn hai hạt đến bốn hạt rong xoắn, sau đó sẽ giảm được cảm giác muốn ăn, mà lại không thiếu dinh dưỡng. Người châu Âu giảm béo toàn dùng rong xoắn, ở Trung Quốc ăn ít đi ngoài nhiều là không đúng cách.

Thứ hai là thời gian ngủ dậy, quốc tế quy định là 6 giờ sáng, để bạn tham khảo. Thời gian mở cửa sổ, quốc tế quy định là 9 giờ đến 11 giờ, buổi chiều 2 giờ đến 4 giờ. Vì sao? Vì sau 9 giờ không khí ô nhiễm lắng xuống, chất ô nhiễm đã giảm bớt, không có hiện tượng phản lực.

Các vị chú ý cho, sáng dậy mở cửa sổ, đừng có thở nhiều ở đó, vì chất gây ung thư, chất phản lưu đều chạy hết vào trong phổi bạn, dễ bị ung thư phổi. Quốc tế đã cảnh cáo, 6 giờ đến 9 giờ sáng là lúc dễ gây ung thư nguy hiểm nhất. Không thể nói chung chung rằng ngủ sớm dậy sớm khỏe người. Cả đêm bạn đã hít đầy bụng khí các-bô-níc ở trong nhà, trong đường hô hấp đã có hơn 100 loại độc tố rồi, lại chạy vào rừng cây, buổi sáng trong rừng cây lại toàn là các-bô-níc.

Tập luyện buổi sáng, huyết áp cơ sở cao, thân nhiệt cơ sở cao, thận thượng tuyến tố cao gấp 4 lần buổi chiều tối, người có bệnh tim rất dễ sinh chuyện. Trong rừng cây phải đợi khi mặt trời lên, ánh mặt trời có phản ứng với chất diệp lục mới có thể sản sinh ôxy. Lúc trong rừng toàn là các-bô-níc rất dễ trúng độc, rất dễ mắc ung thư. Trong sách

Hoàng đế nội kinh có nói "không có mặt trời thì không tập luyện". Mùa hè ngủ sớm dậy sớm, mùa đông không nên đi tập buổi sáng sớm, mà đổi sang tập buổi tối.

Về vấn đề tập thể dục buổi sáng, có rất nhiều ông già, bà già 5, 6 giờ sáng đã xách kiếm gỗ đi ra ngoài. Đến tối, không thấy các ông các bà nữa, họ đều ở nhà xem tivi. Đó là vì họ không biết rằng tập luyện buổi sáng sớm rất nguy hiểm. Sáng sớm dậy, quy luật của đồng hồ sinh học trong con người là nhiệt độ cơ thể cao, huyết áp tăng, hơn nữa nội tiết tố thượng thận cao gấp 4 lần buổi tối, nếu vận động mạnh, sẽ rất dễ xảy chuyện, dễ làm tim ngừng đập.. Không có gì để phản đối việc đi bộ, tập thể dục, tập Thái cực quyền, luyện khí công buổi sáng sớm.

Điều đó không có gì sai cả. Nhưng nếu người già và người trung niên sáng sớm vận động mạnh, chạy đường dài, leo núi, thì chỉ có trăm điều hại, không một điều lợi.

Cũng không phải là người như thế nào cũng đều ngủ sớm, dậy sớm khỏe người cả, người cao tuổi đừng có bật dậy mạnh. Có người bật một cái là dậy, thoắt một cái nhồi máu cơ tim chết luôn. Quốc tế người ta nói, người ngoài 70 nên dậy thong thả, duỗi tay duỗi chân cử động vài cái, rồi xoa bóp tim một lúc, ngồi vài phút rồi hẵng đứng lên. Như vậy sẽ không làm sao cả.. Cho nên tuổi tác khác nhau, thời tiết mùa vụ khác nhau thì phải đối xử khác nhau.

Ngủ trưa

Quốc tế quy định rồi, ngủ trưa hay không ngủ trưa khỏi phải tranh luận.. Trước kia Nhật Bản không chủ trương ngủ trưa, nhưng nếu đêm hôm trước ngủ không tốt thì nên ngủ trưa. Thời gian ngủ trưa nên là nửa giờ sau bữa ăn trưa, và tốt nhất nên ngủ một tiếng đồng hồ, ngủ lâu quá không lợi cho sức khỏe. Không nên đắp chăn dày. Buổi tối đi ngủ vào lúc nào? Khái niệm ngủ sớm dậy sớm cần làm rõ. Nếu 7 giờ tối đi ngủ, 12 giờ đêm dậy lục sục vớ vẩn, thì không ích gì. Nên đi ngủ lúc 10 giờ đến 10 giờ 30 đi ngủ, vì ở hội nghị quốc tế người ta đã quy định, một giờ đến một giờ rưỡi sau đi vào giấc ngủ sâu là tốt nhất,

như thế thì 12 giờ đêm đến 3 giờ sáng, 3 tiếng ấy sét đánh cũng không nhúc nhích, không có làm gì hết. 3 tiếng đồng hồ ấy là giấc ngủ sâu. Nếu 3 tiếng ấy ngủ tốt thì hôm sau dậy tinh thần sẽ thoải mái. Nếu anh ngủ sau 4 giờ, thì đó là giấc ngủ nông. Biết cách ngủ và không biết cách ngủ là rất khác nhau. Từ 12 giờ đến 3 giờ sáng là giấc ngủ say như chết, và trước khi đi ngủ tắm nước nóng 40-50 độ, như vậy chất lượng giấc ngủ rất cao.

Trạng thái tâm lý tốt

Vấn đề thứ ba về việc giữ gìn sức khỏe là trạng thái tâm lý. Nếu trạng thái tâm lý không tốt thì anh ăn uống tập luyện cũng vô ích. Tức giận thì dễ bị khối u, cả thế giới đều biết. Trường đại học Stanford đã làm một thí nghiệm nổi tiếng, lấy ống mũi đặt lên mũi cho anh thở, rồi sau đó lấy ống mũi đặt trên bãi tuyết 10 phút. Nếu băng tuyết không đổi màu thì chứng tỏ anh bình tĩnh tự nhiên; nếu băng tuyết trắng lên, chứng tỏ anh có điều hổ thẹn day dứt; nếu băng tuyết tím đi, chứng tỏ anh rất tức giận. Rút lấy 1-2 cc chỗ băng tuyết tím đó tiêm cho chuột con thì 1-2 phút sau chuột con sẽ chết.

Xin khuyên các bạn, ai muốn trêu tức bạn, thì bạn đừng có tức. Nếu bạn không nhịn được, bạn hãy xem đồng hồ, đừng để quá 5 phút, quá 5 phút là hỏng chuyện, máu sẽ tím đi. Thí nghiệm này đã được giải Nobel.

Tâm lý học có thể đề xuất 5 phương pháp tránh tức giận: một là tránh đi; hai là chuyển di, người ta chửi anh thì anh đi đánh cờ, câu cá, không nghe thấy; ba là thả ra, nhưng phải chú ý, người ta chửi anh, anh lại đi chửi người khác thì không gọi là thả ra, mà phải đi tìm bạn tri âm để nói chuyện, thả ra hết (giải tỏa) nếu không cứ để bụng thì sẽ sinh bệnh; bốn là thăng hoa, tức là người ta càng nói anh thì càng ra sức làm; năm là khống chế, đây là phương pháp chủ yếu nhất tức là mày chửi thế nào ông cũng không sợ . Điểm này rất quan trọng. Nhịn một lúc gió yên sóng lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn nại không phải là mục đích, mà là sách lược.(D.Kiên) Nhưng người thường không làm nổi, mới nói một câu đã lồng lộn lên.

Tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu (Không nhịn được điều nhỏ thì sẽ rối loạn hỏng cả mưu kế lớn). Châu Âu có một tục ngữ: cái lý khó giảng thì nên dừng; con người khó đối xử thì nên xử hậu; việc khó xử thì nên làm thong thả; công việc khó thành thì nên khôn khéo. Câu đầu tiên trong 4 câu ấy có nghĩa là: lý lẽ khó thì hãy khoan nói. Triết lý rất sâu sắc, rất có ích. Trong Tam quốc diễn nghĩa, Gia Cát Lượng ba lần chọc tức Chu Du, rốt cuộc đã khiến Chu Du tức giận mà chết. Tại Chu Du hay tại Gia Cát Lượng? Kết luận là tại Chu Du, khí lượng ông ta hẹp hòi quá.

Tức giận nguy hại rất lớn cho người ta.

Hiện nay, có một lý thuyết mới, tất cả động vật đều không có công năng cười, duy loài người có công năng đó. Nhưng loài người chưa biết sử dụng công năng đó. Xưa có câu: một nụ cười trẻ ra mười tuổi. Không phải chỉ tuổi tác, mà chỉ tâm thái. Miệng hay cười, người hay khỏe.

Tác dụng của cười rất lớn. Cười tránh được rất nhiều bệnh. Thứ nhất, không bị thiên đầu thống, thứ hai không bị đau lưng, vì khi cười vi tuần hoàn phát triển. Thông tắc bất thống (thông thì không đau), bất thông tắc thống (không thông thì đau).

Lại nữa, cười, thường xuyên cười đặc biệt tốt cho đường hô hấp và đường tiêu hóa. Có thể làm thí nghiệm, anh cứ sờ vào bụng bắt đầu cười, mỗi ngày cười to 3 lần, bụng lọc sọc 3 lần, thì không táo bón, không bị ung thư dạ dày, đường ruột. Anh tập tay, tập chân, nhưng tập dạ dày đường ruột vào lúc nào? Không có cơ hội, chỉ có cười mới luyện tập được dạ dày, đường ruột.

Cười đã trở thành một tiêu chuẩn của sức khỏe. Giải Nobel thứ hai về cười đã được trao. Cười là thứ thuốc tể thiên nhiên. Nếu bạn bị viêm khớp, xin đừng lo, cứ nhìn vào khớp mà cười ha hả, một chốc là không đau nữa. Cười có nhiều ích lợi như thế, sao chúng ta lại không cười nhỉ !

Mới đây thành phố Bắc Kinh đã có cuộc tổng kiểm tra , tuổi thọ của người ta ,bạn có biết là cụ ông thọ hơn hay cụ bà thọ hơn không? Xin nói mau , cụ bà thọ hơn cụ ông, bình quân thọ hơn cụ ông 6 năm rưỡi.

Ưu điểm lớn nhất của rất nhiều bà cụ là từ khi còn trẻ đã thích cười, già rồi vẫn cười. Trong các buổi diễn thuyết chỉ thấy toàn các bà cười, các ông không cười. Đã kém người ta 6 năm rưỡi rồi đấy, đến bao giờ các ông mới cười. Cho nên từ giờ, mỗi người hãy mau mau cười đi.

Có người nói thế nào cũng chẳng cười. Cấp bậc càng cao càng không cười, biết làm thế nào được? Chẳng những đã không cười, lại còn lý luận: Nam nhi hữu lệ bất khinh đàn (Đàn ông có nước mắt nhưng không dễ gì chảy). Nước mắt người thường thì mặn, nước mắt bệnh nhân tiểu đường thì ngọt, nước mắt đau buồn thì đắng, trong đó có peptide , có hoóc-môn. Nếu lâu ngày không chảy đi thì sẽ bị khối u, bị ung thư đấy. Dù có khỏi khối u thì cũng bị loét hoặc viêm kết tràng mạn tính. Cho nên, nếu các vị đau buồn thì phải chảy nước mắt ra, giữ lại không ích gì đâu.

Ở hội nghị quốc tế, người ta đã cảnh báo chúng ta. Chúng ta hãy uống trà xanh, ăn đậu nành, ngủ cho tốt, năng vận động, và đừng quên luôn luôn cười vui. Mong rằng mỗi người đều chú ý cân bằng ẩm thực, vận động có ô-xy và chú ý trạng thái tâm lý của mình, lúc đáng khóc thì khóc, lúc đáng cười thì cười chắc chắn chúng ta nhất định có thể vượt qua tuổi 73, qua tuổi 84, đến 90, 100 tuổi vẫn còn khỏe mạnh.

Phương Pháp chữa bệnh Seignalet

Jean Seignalet (1936-2003), chuyên gia nổi tiếng về miễn nhiễm, tùng sự tại bệnh viện Montpellier Pháp, điều khiển phòng thí nghiệm HLA, hành nghề bác sĩ từ 1959 đến 1968. Từ 1968 đến 1983 ông khảo cứu về miễn nhiễm và di truyền học, là người tiên phong về ghép thận. Việc khảo cứu và hành nghề bác sĩ tổng quát đã cho ông cái nhìn sâu rộng về mối liên hệ giữa dinh dưỡng và các bệnh viêm sưng kinh niên.

Đối với khoa dinh dưỡng, ông tỏ ra là một nhà khoa học lỗi lạc so với các bạn đồng nghiệp. Từ năm 1983, nhận thấy Âu dược tỏ ra bất lực trước các bệnh viêm sưng kinh niên, ông đã chú trọng đến ẩm thực để chữa trị rất nhiều bệnh nan y mà ông gọi đó là ngành y học thứ ba. Ông đã thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng và đã gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp. Phương pháp của ông được mọi người biết đến với cái tên Chế Độ Giảm Độc (régime hypotoxique). Trước khi mất, ông đã để lại cho đời 230 bài biên khảo trong đó 78 bài được đăng trong tạp chí y học thế giới. Bà Jacqueline Lagacé, tiến sĩ y khoa, giáo sư giảng dạy môn miễn nhiễm và vi trùng học tại đại học Y khoa Montréal. Từ nhiều năm, bà bị thấp khớp bàn tay khiến cho mỗi khi cử động, bà cảm thấy đau đớn vô cùng. Bà đã dùng đủ loại thuốc Tây và nhiều phương pháp chữa trị khác đều vô hiệu, thế mà khi áp dụng phương pháp Seignalet chỉ trong một thời gian ngắn là khỏi bệnh.

Quá vui mừng, bà đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu phương pháp này để biên soạn thành cuốn sách mang tên: “Comment j’ai vaincu la douleur et l’inflamation chronique par l’alimentation” (bằng cách nào tôi đã chiến thắng đau đớn và viêm sưng bằng ẩm thực) theo phương pháp ẩm thực trị liệu của ông J. Seignalet.

Chủ Trị

Các loại bệnh viêm sưng kinh niên, khôi phục chức năng cơ thể, tay chân hết đau. Chữa trị nhiều bệnh khác gây chứng viêm sưng.

Cơ Chế của Viêm Sưng

Viêm sưng là phản ứng tự vệ của cơ thể do hệ miễn nhiễm phụ trách. Có 2 hệ miễn nhiễm, hệ đầu là hệ thống nội tại bẩm sinh phản ứng nhanh nhưng kô có ký ức, hệ thứ hai bao gồm bạch huyết cầu B, T, CPA là hệ do thủ đắc mà có, phản ứng tuy chậm nhưng có ký ức, khi nó gặp vi trùng náo đó, nó nhớ ngay là đã gặp bọn nầy rồi ở lần chích ngừa hay nhiễm trùng trong quá khứ, thế là nó sai người đi dọ thám, phòng tuyến được dàn ra, cuộc chiến bắt đầu, vi trùng bị tiêu diệt dễ dàng và nhanh. Nếu địch chưa bị diệt nó sẽ hợp lực với hệ nội tại để thanh toán địch.

Chất gây bệnh phát tín hiệu làm mạch máu và mao quản giãn ra. Kết quả là bạch cầu vượt qua thành mao quản nhờ sự xuyên thấu, rồi tiến tới tác nhân gây bệnh, đồng thời tiết ra nhiều chất trung gian làm vết thương sưng để tiêu diệt hay nuốt sống chúng. Chất trung gian hiện diện trong huyết tương, phần được bạch cầu phóng thích trong tiến trình sưng, phần khác được enzymes chế tạo ra, tất cả gộp lại làm gia tốc phản ứng sưng, thêm vào đó còn có thêm mủ là xác của vi trùng, bạch huyết cầu, tế bào lạ. Khi hệ miễn nhiễm nội tại không loại hoàn toàn tác nhân gây bệnh thì hệ thống thứ cấp ra tay giúp đỡ. Nếu hệ thống nầy cũng bó tay thì chỗ sưng vẫn tiếp tục sưng và sẽ biến thành kinh niên. Vết sưng trải qua năm tháng sẽ trở thành thầm lặng và kô tạo cảm giác đau nhiều như trước, khiến bệnh nhân tưởng lầm là đã khỏi bệnh.

Thực ra bệnh vẫn còn. Viêm kinh niên làm cơ thể mất quân bình và làm thay đổi hormone, thay đổi sự bài tiết Insuline gây nên sự đế kháng Insuline; nang thượng thận tiết ra cortison làm tăng sự lãnh cảm với Insuline. Viêm kinh niên rất phức tạp vì phần lớn do đồ ăn gây nên. Chất béo Oméga6 được cơ thể chế thành prostaglandine2 là chất gây sưng, trong khi chất béo oméga 3 được chế thành prostaglandine 1 là chất chống sưng. Ngoài ra chất du căn (free radicals) trong đồ ăn mà ta đua vào cơ thể cũng đóng góp nhiều vào tiến trình sưng, tệ hại nhất là những hóa chất, làm cơ thể bị tiêu hao nhiều chất khoáng, sinh tố, flavonoid.

Tuy du căn cũng là tác nhân xông xáo trong việc tiêu diệt vi trùng nhưng nếu quá nhiều thì sẽ làm hại cơ thể. Cơ thể tự bảo vệ bằng cách chế ra chất trung hoà chất du căn, và nhất là nhờ đồ có ăn chứa chất chống oxyt-hoá như vit E, C, bêta-carotène, lycopène, flavonoid, thiol, Fe, Zn,Cu, Se, Mn.

Gốc Bệnh

Sống cần phải ăn uống, ăn uống cần phải được hấp thụ, có ăn mà không được hấp thụ thì sẽ bị suy dinh dưỡng (như trong bệnh anorexie) sẽ dẫn đến tử vong. Cơ quan phụ trách việc hấp thụ chất dinh dưỡng để nuôi cơ thể chính là ruột non. Khỏe mạnh hay yếu bệnh từ đấy mà ra cho nên có thể nói, ruột non chính là gốc bệnh.

Ruột non dài 5 đến 6m là cơ quan trọng yếu có nhiệm vụ tiêu hóa đồ ăn, có một màng nhày ngăn cách cơ tạng bên trong cơ thể với đồ ăn từ ngoài cơ thể vào gồm chất dinh dưỡng và nước, bảo vệ ruột khỏi bị tác nhân khác làm hư hại như ký sinh trùng, vi trùng, vi khuẩn, đồ ăn.Màng ruột gồm nhiều nhung mao, trải thẳng ra rộng đến 100m2. Để tiêu hóa, ruột non tiết ra diếu tố (enzymes) để tách rời phân tử lớn và phức tạp của đồ ăn thành phân tử đơn giản; đường bột thành đường đơn, mỡ thành acid béo, đạm thành đạm đơn và acid animé.

Ruột hoạt động tốt là nhờ hằng tỷ vi khuẩn hữu ích sống ở đây gọi là tạp khuẩn ruột (flore intestinale).

Ống tiêu hóa của con người chứa khoảng 100 ngàn tỷ vi khuẩn để phát triển và để hoạt động bình thường (ống tiêu hóa và hệ miễn nhiễm). Nó hổ trợ đắc lực cho hệ thống miễn nhiễm nội tại của ruột non. Ruột già chỉ có khoảng 100 tỷ vi khuẩn kỵ khí, hoạt động được phần lớn (99%) là nhờ sự lên men. Ở ruột non, 2/3 khúc đầu là vi khuẩn hiếu khí (cần có oxy để hoạt động), đoạn cuối là kỵ khí (không cần oxy như ruột già). Có khoảng 400 đến 500 loại vi khuẩn khác nhau cùng sống chung với nhau trong ruột. Khi tạp khuẩn ở ruột non chết đi, chúng sẽ bị phân giải thành phân tử đường và chất béo.

Tạp khuẩn ruột giúp cơ thể tiêu hóa đồ ăn, chế tạo vit K, ngăn cản men nấm phát triển, phóng thích phân tử đạm lớn có ích cho tế bào mao trạng ruột. Trong sự tiêu hóa chất đạm 90% protein vượt qua hàng rào ruột thâm nhập vào màng ruột là lớp tế bào mao trạng gồm những nhung mao vi tế. Đạm được enzyme thủy phân thành peptid và acide animé là phân tử rất nhỏ 10% đạm còn lại thì vượt qua khe giáp nối giữa 2 tế bào mao trạng để vào bên trong ruột.

Khi sản phẩm của sự tiêu hóa có phân tử trung bình chỉ được tiêu hóa một phần thôi, phần đó sẽ được cuốn vào máu rồi đi tới gan, còn sản phẩm của sự tiêu hóa chất béo thì được bạch huyết (lymphe) mang đi, những chất khác chưa được tiêu hóa hết sẽ đi vào trong ruột non rồi nhờ nhu động ruột mà vào đến ruột già.

Nhưng sự chặt chẽ của màng tế bào ruột non thì kô phải lúc nào cũng hoàn hảo. Chỗ giáp nối giữa các tế bào mao trạng ruột có khi bị tổn hại do nhiều tác nhân gây ra khiến ruột kô thể ngăn cản phân tử lớn của đồ ăn hay vi khuẩn vào, những thứ đó vuợt qua được màng nhầy ruột ở khe hở, lọt vào được bên trong cơ thể để sinh nhiều bệnh tật, ta gọi đó là sự thẩm thấu bất toàn (hyperméabilité intestinale) như trường hợp uống sữa bò bị tiêu chảy (thiếu lactase) hay dùng bột mì bị dị ứng (do gluten) hay nặng hơn sinh bệnh tự hủy (auto-immunes)

Tác Nhân Gây Bệnh

Những tác nhân sau làm ruột yếu đi tạo nên hiện tượng thẩm thấu bất toàn tức là quá độ khiến cho vi trùng, độc tố, đồ ăn vượt rào ồ ạt vào trong cơ thể để gây bệnh.

1-Nguyên do đầu tiên là do Enzyme và Mucines (chất nhày ở ruột) không đủ khả năng làm tiêu hóa đồ ăn tân tiến (phần lớn do kỹ nghệ chế biến). Những chất đó khó tiêu hoá do thiếu enyme, trở nên hư thối, biến thành độc tố, kết tụ chất bựa ở bên trong và bên ngoài tế bào tạo môi trường tốt cho vi trùng độc hại sinh sôi nẩy nở, làm cho khe màng ruột hở ra khiến vi trùng và rác rưởi chui lọt qua màng ruột rồi đi vào máu mà gây ra bệnh tự hủy (phe ta chống lại phe ta, auto-immunes). Enzyme là đạm chất do tế bào sản xuất để xúc tiến phản ứng sinh hóa nơi vật sống, là yếu tố tối quan trọng, quyết định sự thành công trong việc điều trị mọi bệnh tật. Mỗi enzyme hoạt động ở nhiệt độ 37 độ trên mỗi đối tượng và môi trường khác biệt.

Pepsine phân hóa chất đạm protéine trong bao tử đòi hỏi môi trường Ph từ 2 đến 4 (rất acide), trong khi Trypsine làm việc như vậy trong ruột non đòi hỏi Ph từ 8 đến 9 (rất basique). Kẻ thù của enzyme là chất du căn (radicaux libres), thuốc sát trùng, thuốc tây nhất là trụ sinh, thuốc lá, ô nhiễm môi sinh.

2-Nguy hiểm nhất là đồ ăn tân tiến hiện nay (đồ do kỹ nghệ sản xuất, đồ ăn làm sẵn) khiến diếu tố (enzyme) không đủ và không thể tiêu hóa hoàn toàn đồ ăn khiến chúng bị lên men tạo ra chất độc gây hại cho ruột non và ruột già.

3-Thuốc chống sưng (loại salicylés như aspirine), Ibuprofène (advil), corticosteroide gây nhiều hậu quả tai hại cho thành ruột.

Trụ sinh dùng dài hạn có tác dụng như “vũ khí hủy diệt hàng loạt” tiêu diệt phần lớn tạp khuẩn ruột hữu ích (flore bactérienne utile) làm biến đổi môi trường tốt của tế bào màng nhày, làm đảo lộn công việc hấp thụ dinh dưỡng của ruột, tạo cơ hội tốt cho vi khuẩn có hại bành trướng.

4-Cytokines, đạm tố do tế bào hệ miễn nhiễm tạo ra, có nhiệm vụ làm liên lạc viên, làm điều hòa

phản ứng hệ miễn nhiễm, nhưng khi được tiết ra quá nhiều sẽ làm thay đổi thành phần chất béo ở màng tế bào ruột, làm sưng ruột.

5- Ô nhiễm môi sinh dưới nhiều thể trạng, chất du căn (radicaux libres= gốc tự do), thuốc sát trùng, chất làm thơm, mỹ phẩm, hoá trị, thuốc Tây.

Để cơ thể hoạt động bình thường, bạch huyêt cầu (lymphocyte) phải sống hòa hợp với tế bào bình thường, diệt trừ tế bào biến thái cũng như tế bào xâm lược từ môi trường chung quanh đến.

Phương tiện phòng thủ đầu tiên của ruột non, kô có tính miễn nhiễm là dịch vị (acide bao tử) có tính sát khuẩn; rồi đến diếu tố tiêu hoá (enzymes digestives), mật, nhu động ruột, vi khuẩn hoại sinh (bactéries saprophytes sống trên xác chết) chống lại phát triển mầm bệnh, chất sát trùng và chất nhầy trung hòa tác nhân gây bệnh.

Phòng tuyến thứ nhì thuộc hệ miễn nhiễm là các bạch huyết cầu do tế bào tủy sống sinh ra, được phân bố khắp màng nhày ruột non. Bạch huyết cầu thuộc hệ miễn nhiễm chế tạo ra kháng thể (anticorps) để chống lại tác nhân gây hại, nó có khả năng nhận dạng tế bào bình thường với tế bào lạ nhờ một phân tử đặc biệt nằm ở mặt ngoài màng tế bào gọi là kháng nguyên. Lúc đầu người ta tưởng rằng chỉ có bạch huyết cầu mới có kháng nguyên nên họ mới đặt tên cho phân tử này là kháng nguyên bạch cầu HLA (human leukocyte antigen). Ngày nay người ta biết rằng bất cứ tế bào nào cũng có kháng nguyên cho nên HLA là kháng nguyên nói chung. HLA giống như thẻ căn cước (hay giấy thông hành) của một tế bào. Nhờ dấu hiệu nhận diện này mà hệ thống miễn nhiễm mới biết được tế bào nào đó là phe ta (để hợp sức) hay phe địch (để tiêu diệt).

Kháng được phân làm 3 loại:

-Loại kháng nguyên của chính mình do cơ thể mình chế tạo nên kô làm hệ miễn nhiễm động binh.

-Loại bất thường cũng do cơ thể chế tạo nhưng đã biến thái thường gặp ở tế bào ung thư, đó là kháng nguyên u bướu và bị hệ miễn nhiễm chống lại.

-Loại xa lạ không do cơ thể chế tạo mà từ ngoài đi vào như từ đồ ăn thuốc uống.

Kháng nguyên có khả năng phát động hệ miễn nhiễm.

Khi ruột non bệnh thường xuất hiện các bệnh sau:

-Nhiễm trùng ruột, xác vi trùng, đồ ăn dư thừa sẽ qua được khe ruột.

-Bệnh tự hủy (auto-immune), do khắc kỵ gluten, hệ miễn nhiễm bị kích thích quá độ.

-Viêm khớp kinh niên. Các chất dư thừa nhập vào hệ thống tuần hoàn rồi đóng ở mô và khớp để gây bệnh.

-Loét ruột, Sưng ruột dạng Crohn...

“Họa từ miệng đi ra, Bệnh từ miệng đi vào” cho nên muốn trị bệnh ta phải kiểm soát xem đồ ăn nào đước phép “nhập khẩu” và thứ nào thì bị “cấm vận”, ít ra là trong giai đoạn điều trị.

A-Thực Phẩm Nên dùng :

-Gạo tẻ (rice), từ xưa đến nay, gạo tẻ vẫn giữ được tính thuần chủng nên là ngũ cốc tốt nhất.

-Hắc mạch(buckwheat), chứa nhiều khoáng tố, rutine có tính chống oxyd-hóa, chống sưng, chống ung thư.

-Mè (sesame) Mè chứa nhiều chất chống oxyd-hóa chống bệnh của tuổi già, chứa 18% lechitine rất cần cho não bộ, hệ thống thần kinh và cơ quan sinh dục, hòa tan cholesterol. Mè đen nhiều chất khoáng hơn mè trắng nhưng mè trắng an toàn hơn, vì ít lo sợ bị gian thương nhuộm phẩm đen.

-Tất cả trái cây tươi và rau tươi đều tốt. Rau dùng sống là tốt nhất kế đến là hấp (như tỏi, carotte, céleri, nấm, dưa leo, bầu bí, cresson, endive, mâche, dưa hấu, hành, ớt, su hào, rau diếp, cà chua).

THỰC HÀNH PHƯƠNG PHÁP SEIGNALET

-Sinh tố, khoáng tố. Nên dùng kết hợp theo tỷ lệ tương xứng nhau như các sinh tố nhóm B, nhất là tìm trong đồ ăn đủ loại và thay đổi luôn. Vit A,D không được dùng nhiều. Vit D3 700UI/ngày với 500mg Cal làm giảm đáng kể loãng xương; sinh tố này bị giảm khi dùng cortison, và bị giam giữ trong mỡ dư thừa của bệnh béo phì (obésité).Sinh tố D và calcium giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của mọi tế bào, các mô trong cơ thể đều có bộ phận tiếp nhận vit D. Cơ thể thiếu vit D và calcium sẽ dễ bị bệnh xốp xương, ung thư kết tràng, ung thư vú, viêm ruột, đái đường loại 1 và 2, hội chứng biến dưỡng, cao áp, bệnh tim mạch. Phụ nữ nếu dùng 400 UI Vit D/ngày thì nguy cơ bị phong thấp (arthrite rhumatoide) và thấp khớp (arthrose) sẽ giảm 40%.

-Hormone parathyroidienne giữ cho calcium và phosphate ở mực độ bình thường trong cơ thể. Chính Vit D calcitriol cùng với calcium trong huyết thanh đã điều chỉnh hormone nầy ở mực độ điều hoà. Thiếu vit D sẽ làm tăng hormone parathyroidienne dẫn đến biến đổi xương gây nên bệnh xốp xương.

-Chất béo trong não chiếm đến 60%, trong đó dầu Oméga3 là quan trọng nhất vì nó cần cho sự phát triển của não. Loại oméga3 là acid docosahexaénoique (DHA) cần cho hoạt động và lành mạnh của võng mạc, tinh anh của mắt, phát triển tinh thần, và vận hành tốt của hệ thống miễn nhiễm. Mỡ no (gras saturés) không nên dùng vì nó làm tăng cholestérol xấu (LDL) còn mỡ TRANS càng tệ hơn vì chẳng những làm tăng LDL mà còn làm giảm cholestérol tốt HDL

B-Thực Phẩm Nên Tránh

1-Thực phẩm do kỹ nghệ chế tạo (Đồ hộp, chai lọ, gói sẵn, đồ ăn nhanh, v.v.), restaurant, fast foods

1-Thực phẩm bị xịt thuốc trừ sâu, được bón bằng phân hóa học, vì phân nầy làm hại vi khuẩn dưới đất khiến chúng trở nên ít đi, kiệt quệ không đủ sức làm cho đất trở thành giàu chất khoáng để nuôi cây.

2-Lúa mì vì nó chứa Gluten (một đạm chất dễ gây viêm ruột) và Asparagine (có nhiều trong lớp áo lụa của hạt) dễ biến chủng khi gặp nhiệt cao. Những ngũ cốc sau cũng nên tránh vì chứa asparagine : orge (đại mạch), seigle, kamut, épeautre, avoine, bắp. Khi dùng nhiệt độ trên 110 độ C để nấu nướng thì lúa mì và ngũ cốc chứa asparagine sẽ bị biến đổi phần nào và sinh ra độc tố acrylamide, glycotxine và phân tử

Maillard có hại.

3-Sữa bò vì nó là nguyên nhân gây ra bệnh đái đường loại 1 và nhiều bệnh viêm kinh niên là vì bò không còn được ăn cỏ như xưa mà phần lớn phải dùng thực phẩm không tự nhiên (pha hormone, trụ sinh, hóa chất) lại bị sát trùng ở nhiệt độ cao nên không còn giữ được chất tươi bổ dưỡng như khi chưa biến chế.

4-Đường trắng tinh (vì đã lọc hết chất bổ). Có thể dùng đường vàng (không lọc, không tẩy màu) nhưng với dung lượng khiêm tốn.

5-Muối nên dùng ít thôi.

3-Thịt nên dùng ít, nếu có thể được nên dùng sống tốt hơn, nếu phải dùng chín thì nên nên hấp với thời gian ngắn. Thịt nạc tốt hơn, vì chứa ít mỡ rác rưởi. Không nên dùng thịt làm sẵn.Thịt chế biến sẵn,

5- Margarine, dầu hoá đặc (hydrogéné) tức dầu trans tuyệt đối không dùng. Nên thay dầu tinh lọc bằng dầu ép lạnh không lọc.

6-Dùng trứng tốt nhất là dùng sống hay chín vừa (à la coque) hay trứng tráng chín vừa.

7-Thủy sản, cá nên hấp, nên dùng thường dầu cá. Sò hến được dùng.

C-Cách Nấu Nướng

Nhiệt độ cao làm đồ ăn trở nên xấu đi. Nên dùng nhiệt độ thấp (dưới 110), cho ít nước, hấp luộc hơn là nướng chiên Dùng nồi nấu chậm (slow cooker) khá tốt vì nước ở nhiệt độ thấp sẽ ngăn đồ ăn biết thành glycotoxine (chất độc). Tránh dùng lò micro onde vì nó làm tăng bội glycotoxine.

D-Probiotiques

Rất quan trọng, đó là những viên vi khuẩn có ích cho tạp khẩn ruột có tên chung là Probiotiques như vi khuẩn Lactobacillus Acidophilus (ở ruột non), Bifidus (ở ruột già) v v. một viên chứa từ 2 đến 20 tỷ vi khuẩn để Tái Lập Tạp Khuẩn Ruột Có Ích, phục hồi sức mạnh cho ruột. Nếu như phải dùng trụ sinh để diệt vi trùng đường ruột như vi khuẩn Clostridium difficile chẳng hạn thì phải kèm thêm capsules probiotiques như Lactobacillus Acidophilus Bio-K+ (100 tỷ vi khuẩn/ mỗi ngày) thì sẽ làm giảm 68% bệnh nhiễm trùng.

Probiotics có nhiệm vụ “gia tăng quân số” cho tạp khuẩn ruột là những vi khuẩn rất có ích cho ruột để hoàn thành các nhiệm vụ trọng yếu như sau:

-Tổng hợp sinh tố như Vit B1, B9 (folic acid), B6 (pyridoxine), vit K

-Sản xuất diếu tố (enzyme) tiêu hóa, giúp hấp thụ calcium, magnésium, sắt.

-Làm ruột tốt hơn, giúp ruột ngăn chận độc tố và vi khuẩn gây bệnh đi xuyên qua ruột rồi vào máu.

-Kiểm soát sưng viêm trong cơ thể.

-Kích thích và hổ trợ hệ miễn nhiễm, làm tăng sức đề kháng cơ thể.

-Điều hòa hoạt động tốt đẹp của ruột.

Một cơ thể khoẻ mạnh có tổng số vi khuẩn hữu ích là 250 ngàn tỷ gấp 10 lần tổng tế bào trong cơ thể và nặng 4 pounds cư trú tại ruột non và ruột già.

A-Thấp Khớp Thể Tự Hủy (PolyArthrite Rhumatoïde)

Là bệnh tự hủy (auto-immune) hệ miễn nhiễm tấn công màng hoạt dịch khớp làm đau và tổn thương vĩnh viễn khớp.Bệnh có thể ảnh hưởng đến mắt, tim, phổi.

Có hai loại PolyArthrite Rhumatoide dựa trên sự có mặt hay vắng mặt một loại kháng thể chống lại đạm tố citrullinée, yếu tố này quan trọng hơn là yếu tố thấp khớp và người ta thường làm thử nghiệm tim yếu tố nầy để định bệnh, đó cũng là yếu tố làm phá hủy khớp một cách trầm trọng và kèm thêm bệnh khác như tim mạch hay đau liên khớp. Khi mới bệnh sự chẩn đoán khó, nhưng khi bệnh tiến triển, sẽ dể đoán hơn với triệu chứng hiện rõ như sau:

1-Sáng sớm bị cứng khớp kéo dài trên 1 tiếng.

2-Ít nhất có 3 chỗ sưng đau

3-Đau phía cạnh khi bị ấn vào

4-Chỗ đau có tính đối xứng

5-Có biểu hiện yếu tố phong thấp

6- Có nổi lên nốt đau

7-Đau ở bàn tay cổ tay

Sáu tuần đầu phải xuất hiện 4 yếu tố, nhưng chỉ cần bị 2 yếu tố là có khả năng bị bệnh rồi.

Thí nghiệm để khám phá ra coi có sự hiện diện kháng thể kháng lại citrulline hay không ở ngay giai đoạn

đầu rồi thí nghiệm cọng hưởng từ tính bàn tay chân.Bệnh thấp khớp thường đi đôi với chủng HLA-DRB1

***Nguyên Nhân***

-Đồ ăn tân tiến khó tiêu hóa làm rối loạn tạp khuẩn ruột tạo cơ hội tốt cho vi khuẩn gây bệnh phát triển, trong khi đó diếu tố (enzyme), mucine, tác nhân bảo vệ, không tiêu hóa được đồ ăn khiến đồ ăn lên men thối hợp cùng với vi khuẩn gây bệnh như proteus mirabilis là loại vi khuẩn sinh ra peptide X nguy hiểm tấn công màng ruột làm cho màng ruột rơi vào tình trạng “thẩm thấu vô độ “ khiến peptide X chun lọt qua được màng ruột để vào trong cơ thể.

-Stress hổ trợ cho thấp khớp, sinh ra cytokine đồng thời gặp interferon gamma ở gần khớp. Chất nầy làm xuất hiện phân tử HLA-DR trên tế bào màng hoạt dịch và tế bào sụn. Những phân tử này kết hợp với peptide X rồi mang nó tới bề mặt của những tế bào đó.

-Chủng HLA-DR và peptide X kết hợp lại với nhau rồi lập căn cứ trên bề mặt tế bào hoạt dịch và tế bào sụn, bị bạch cầu T nhận diện, thế là bạch cầu phát động cuộc chiến chống lại peptide X, gây ra sự phá hủy từ từ tế bào hoạt dịch và sụn. Để trả thù, hoạt dịch và sụn tiết ra chất kích động hệ miễn nhiễm, phản công chống lại bạch cầu T. Bệnh tự hủy bắt đầu.

-Phản ứng trở thành kinh niên vì đồ ăn tân tiến làm vi khuẩn gây bệnh phát triển thuận lợi, khiến ruột non lâm vào tình trạng thẩm thấu vô độ. Bệnh trở nên tệ hơn khi có sự xuất hiện tế bào có kháng nguyên có khả năng phục hồi những kháng nguyên của những vi khuẩn từng bị bạch cầu T phân hủy. Sự kích thích của kháng nguyên được duy trì do peptide X từ ruột non liên tục kéo đến.

-Màng hoạt dịch trở thành dày cứng (pannus) do tế bào miễn nhiễm tiết ra chất trung gian và sợi thần kinh nhậy cảm. Sự tiến triển của pannus làm cho sụn xương, bao khớp bị thương tổn không thể phục hồi lại được.

***Chữa Trị***

Không dùng ngũ cốc có gluten, chỉ dùng gạo hắc mạch mè, nếu muốn khỏi nhanh nên tuyệt thực hoặc ăn chay không gluten vài ba ngày để tránh kháng nguyên từ đồ ăn đồng thời làm hạ LDL (cholestérol xấu) tăng HDL (cholestérol tốt), không dùng sữa động vật, nếu có thể được dùng đồ ăn sống hay chỉ nấu dưới 110 độ, dùng đồ ăn sinh học, ép lạnh, khoáng vi lượng, magnésium, sinh tố, men lactique. không dùng thịt, sữa.

Dùng probiotics để bổ sung vi khuẩn có ích làm mạnh ruột.

Kết quả : màng ruột có vi trùng có hại ít hơn , nhiệm vụ của ruột được cải thiện nhiều hơn, tiêu hóa tốt hơn, màng ruột trở lại bình thuờng không còn tình trạng thẩm thấu vô độ (superméabilité), kháng nguyên không còn vượt qua màng ruột nữa, nó sẽ bị bạch cầu tóm cổ và trừ khử, bệnh sẽ từ từ khỏi.

B -Đái đường loại 1(Diabete type 1)

Tuy bệnh là do di truyền (tế bào bêta, trên đảo langherhang của lá lách chế ra insuline, bị phá hủy) nhưng cũng do môi trường ruột tồi tệ. Dùng probiotiques sẽ cải thiện được bệnh (cơ thể tiết ra cytokines chống sưng ngăn ngừa phát triển đái đường type1). Ở bệnh tự hủy và diabet type1 màng ruột hở, tế bào hệ miễn nhiễm trở nên yếu kém trước kháng nguyên lạ của đồ ăn, nên làm phát triển diabete type1.Trong ruột có virus làm thay đổi xuất tiết cytokines càng làm màng ruột hở, dẫn đến gia tăng về miễn nhiễm đối với đạm thực phẩm. Theo đúng phần Thực Hành Phương Pháp Seignalet, dùng probiotics, không dùng lúa mì, sữa.

C-Đái đường loại 2

Mô mỡ khi bị viêm sưng nhẹ luôn kích thích hệ miễn nhiễm dần dần dẫn đến tình trạng kháng Insuline mà thành đái dường loạì 2, mặc dù tế bào bêta của tụy tạng vẫn tiết ra Insuline. Khi thử nghiệm: triglycéride, huyết áp tăng trong khi HDL giảm, mức độ dung nạp glucose giảm. Thuốc uống không bớt còn thêm phản ứng phụ tai hại. Béo phệ là hậu quả của thiếu hoạt động và hay dùng đồ ăn tân tiến làm hư ruột mà sinh bệnh chứ không phải do di truyền. Áp dụng phần thực hành PP Seignalet trong vài tuần sẽ có kết quả tốt.

D-U bướu thịt (Fibromyalgie) đau tổng thể ảnh hưởng hệ thống xương thịt với điểm đau nhất định từ 11 đến 18 vị trí, nhưng ko nhất thiết là phải đau tất cả các điểm. Bệnh nhân thấy mệt mỏi kinh niên, khó ngủ, trầm cảm. Nguyên do không phải là do bị thương ngoại hình hay bị viêm sưng mà là do nhậy cảm với những rối loạn ở bên trong. Seignalet cho rằng đồ ăn và vi khuẩn trong ruột quá tải làm thành ruột bị hở khiến chúng vào được đến giòng máu, trú khu tại tế bào bắp thịt, gân, thần kinh làm cho tế bào tổng quát thành quá nhậy cảm, ruột bị kích thích rồi chúng kích thich hệ miễn nhiễm trong và ngoài ruột gây bệnh sưng ruột, sưng khớp. Để chữa, áp dụng phần thực hành PP Seignalet.

E-Sơ cứng từng mảng (Sclérose en Plaques) là bệnh tự hủy, và là do di truyền, làm hư hại sợi thần kinh khiến cơ năng vận động và giác quan bị thương tổn. Seignalet thì cho rằng bệnh do vi khuẩn hoặc đồ ăn tân tiến (có hại) gây ra khiến enzymes ruột ko thể hoàn thành nhiệm vụ tiêu hóa, màng ruột bị hở khiến tác nhân gây bệnh ồ át chun lọt qua màng ruột mà vào trong cơ thể để gây bệnh.

Để chữa trị, theo phần phần Thưc Hành phương pháp Seignalet.

Nguyễn San Hà biên soạn

Montréal 18/1/2012