Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

CHỮA BÊNH BẰNG MÁY SẤY TÓC - BS Huỳnh Hải

clip_image001   Thông thường khi nghe nói chữa bệnh bằng day ấn huyệt, bằng kim thì không ai ngạc nhiên. Vì kinh huyệt và châm cứu là một phần của nền y học Trung Quốc có từ xưa. Châm cứu là dùng kim và điếu ngải cứu tác động lên mười hai chính kinh và hai mạch lớn ( Đốc mạch và Nhâm mạch ). Châm cứu đã theo người Trung Hoa sang nước ta và đã được áp dụng ở Việt Nam từ lâu. Nhưng khi nghe máy sấy tóc, một dụng cụ làm đẹp, nay dùng để chữa bệnh chắc nhiều bạn cảm thấy ngạc nhiên. Những trường hợp bệnh sau đây dùng máy sấy tóc để chữa, có kết quả tốt, nhiều khi thật kỳ diệu.

LẠNH GIỮA ĐÊM:

Nhiều người hay bị “ phát lãnh ” đột ngột nhất là vào ban đêm. Bệnh nhân cảm thấy lạnh từ trong xương. Đang ngũ giật mình thức giấc lạnh run. Thỉnh thoảng cứ gặp tình huống này. Điển hình là người bạn đời của tôi khoảng mười năm về trước. Nhiều khi đi về quê chơi, nửa đêm đang ngũ, tôi giật mình thức dậy vì bà xã đột nhiên “ đánh bò cạp” rên hừ hừ. Cả nhà phải thức, ba tôi chụm củi lên để cho con dâu ngồi gần bếp hơ tay chân cho ấm. Ở thành phố thì tiện lợi hơn. Các bạn chỉ việc cắm dây của máy sấy tóc vào ổ điện là đã có một dụng cụ chữa bệnh hiệu quả. Các bạn có thể nhờ người khác hoặc tự mình hơ máy sấy tóc dọc cột sống từ trên xuống dưới ( từ đốt sống ngực thứ nhất đến cột sống vùng cùng cụt, hay từ huyệt Đại chùy đến huyệt Trường cường ). Hơ nóng như vậy khoảng mười phút là các bạn đũ ấm ngườilên ngay. Có thể hơ nóng thêm vào tay và chân. Sau những lần giải quyết có tính cách “ cấp cứu ” các bạn nên đi khám bệnh để tìm nguyên nhân của tình trạng “ phát lãnh ” để chữa tận gốc.

CẮT CƠN SỔ MŨI:
Sổ mũi là một triệu chứng hay gặp khi các bạn bị cảm cúm, viêm họng, sổ mũi do thời tiết, do dị ứng. Sổ mũi hay nghẹt mũi là do tình trạng niêm mạc mũi ( lớp da mỏng lót bên trong mũi ) bị viêm. Các mao mạch ( mạch máu nhỏ )  ở vùng mũi bị sưng, đỏ. Máu bị ứ lại, có thể gây nghẹt mũi hoặc sổ mũi. Có người bị sổ mũi ít thôi. Nhưng cũng có người chảy mũi không cầm được, chùi xong nước mũi cứ chảy tiếp tục. Nếu cúi đầu xuống thì nước mũi chảy không dứt. Mũi có thể chảy ra phía trước hay chảy xuống họng. Các bạn muốn dừng ngay cơn chảy mũi không? Hãy dùng máy sấy tóc để ở một khoảng cách thích hợp ( nóng vừa phải ) và cho hơi nóng trực tiếp đến 2 lổ mũi. Tình trạng sổ mũi tạm thời dừng lại ngay. Nếu sổ mũi tái phát các bạn có thể hơ nóng tiếp tục 
TÊ BÀN TAY:
Đây là triệu chứng của nhiều bệnh: Suy nhược cơ thể, huyết áp thấp, hội chứng Raynaud ( co động mạch đầu chi ), hội chứng ống cổ tay, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa lipid…Đồng thời cùng với việc điều trị đặc hiệu của từng bệnh, các bạn có thể dùng máy sấy tóc hơ nóng hai bàn tay và hai bàn chân mục đích để giãn mạch máu, tăng tuần hoàn đến đầu các chi. Triệu chứng tê tay cải thiện nhanh.
HỆ VẬN ĐỘNG VÀ BỆNH TƯ THẾ

clip_image002clip_image004 

Các bạn hãy nhìn xem hình vẽ về hệ thống cơ xương. Cơ thể chúng ta gốm khoảng sáu trăm cơ, các cơ này nối với chừng hai trăm lẻ sáu xương. Khi các bạn đứng thẳng, các cơ đuợc đối xứng ở hai bên. Ở vị trí này các cơ bắp hầu như được thư giản, các dây thần kinh, mạch máu không bị chèn ép. Tuy nhiên khi chúng ta đứng, ngồi, nằm, sinh hoạt sai tư thế, các cơ, dây chằng, xương, khớp ( toàn bộ hệ vận động ) đều bị ảnh hưởng. có nhóm cơ bị chùn lại, nhóm cơ bên đối diện căng ra, các thành phần khác như mạch máu, dây chằng, thần kinh bị căng, chèn ép. Tình trạng này gây ra một nhóm bệnh đặc biệt, bệnh do tư thế. Ở nhóm bệnh gây ra do  tư thế sai, các bạn sẽ thấy rất nhiều trường hợp, xảy ra cho rất nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau. Người thì bị tê ở vai, mõi cổ, đau sau gáy, đau nửa thân trên ở phía sau, mỏi gối, đau cổ chân, đau cơ cẳng chân ( bắp chuối ),  đau dọc từ thắt lưng xuống gót chân:

- Đau sau gáy, mõi cơ cạnh cột sống cổ: ở người nằm gối quá cao

- Tê cổ tay bàn tay: do bàn tay và cẳng tay gập góc khi  đánh máy hoặc khi cầm chuột vi tính không đúng

- Đau hông phải: do có thói quen đứng làm việc đặt phần lớn trọng lượng cơ thể lên chân phải, thợ tiện

- Mõi gáy, đau gáy: do gập hay ưởn cổ trong khi làm việc, đọc sách, xử dụng vi tính

- Đau vùng thắt lưng: xảy ra trên nhiều đối tượng: người làm việc văn phòng, học sinh, sinh viên…có thói quen ngồi gập người ra phía trước

- Đau nhức mõi chân: ở người đứng tại chỗ lâu như bảo vệ, nha sĩ, chiên bánh tiêu, bán hủ tiếu..

- Mõi vai và cánh tay phải: do xử dụng chuột không đúng cách.

- Mõi, đau cổ tay: ở người thường xuyên bế trẻ, người tiếp xúc với máy vi tính thường xuyên

- Đau khuỷu tay: ở người chơi tenis, người xử dụng búa, thợ máy hay dùng mỏ lết siết bù lon.

- Tê, đau đầu gối, cổ chân, bàn chân, cơ cẳng chân ở những người ngồi xếp bằng lâu ngày: chơi bài, ngồi thiền chưa quen

- Đau thắt lưng: ở người thợ sửa xe, người làm giày

Thưa các bạn đó là những ví dụ về những ngành nghề dễ đưa đến các tư thế sai gây đau nhức, tê, mõi. Những khó chịu này có thể âm ỉ đến đau dữ dội khiến bệnh nhân vừa đau rồi tưởng tượng đến các bệnh nặng, khó chữa rồi lo sợ…

Tất cả những chứng đau, nhức, tê, mõi nói trên không những chỉ xử dụng thuốc để giảm cơn đau cấp thời mà quan trọng nhất, là phải chú ý đến căn nguyên của bệnh. Đó là thói quen, nghề nghiệp, công việc thường ngày. Và hầu hết các trường hợp đau cơ, xương, dây chằng, khớp đều bắt nguồn từ tư thế sai. Giải quyết tư thế sai sẽ chữa hết chứng đau mà các bạn đang gặp và phòng ngừa được nhiều chứng đau cơ, xương, khớp, dây chằng, thần kinh… Nhưng thế nào là tư thế đúng???

TƯ THẾ NGỒI ĐÚNG?

clip_image006clip_image007  

Các bạn nên áp dụng những nguyên tắc sau đây để giữ cho tư thế ngồi đúng:

  1. Đầu thẳng, đầu phải ở giữa hai vai.
  2. Cằm thụt nhẹ vào.
  3. Cột sống ngực, cổ, thắt lưng phải thẳng hàng
  4. Hai vai ngang nhau, không được nâng vai lên, hai vai  phải thư giản nhưng không xệ
  5. Phân bố trọng lương cơ thể đều trên hai mông.
  6. Hai mào xương chậu phải ngang nhau
  7. Không được bắt chéo chân
  8. Không được gát chân.
  9. Đùi nên song song với mặt đất
  10. Để hai bàn chân ra trước và sát đất, hai bàn chân song song với nhau
  11. Tuy cố gắng ngồi với tư thế đúng nhưng không nên ngồi quá lâu

Có nhiều cách ngồi, ngồi xếp bằng dưới đất ( bán già, kiết già ), ngồi kiểu Nhật như hình minh họa ở mục “ Khí công ”, ngồi trên ghế. Nhưng các bạn nên chú ý đến ngồi sau cho cột sống cổ, ngực, thắt lưng phải thẳng hàng, các cơ bắp, dây chằng được thư giản, mạch máu và các dây thần kinh không bị chèn ép thì mới hợp với tình trạng sinh lý tự nhiên.

THẾ NÀO LÀ TƯ THẾ ĐỨNG ĐÚNG:

clip_image008 

Các bạn chú ý những điểm sau khi đứng Các bạn hãy nhìn hình vẽ tư thế đứng đúng và để ý các điểm sau:

-  Đầu thẳng như được treo lên bằng một sợi dây và đầu phải ở giữa hai vai

-  Mắt nhìn ngang

-  Cằm thụt vào trong

-  Cột sống cổ và cột sống ngực thẳng hàng

-  Hai vai có độ cao ngang nhau ( không bên nào cao hay thấp )

-  Hai mào xương chậu có độ cao bằng nhau

-  Hai gối thẳng

-  Trọng lượng cơ thể phải phân bố đều giữa hai bàn chân

Khi các bạn đứng trong tư thế này các cơ và dây chằng sẽ ở trong trạng thái thư giản, cân bằng, không co, không căng. Do đó tránh được tình trạng đau nhức các cơ bắp, chèn ép thần kinh, mạch máu. Đây là tư thế đứng lý tưởng cần được áp dụng.

BỆNH THOÁI HÓA KHỚP:
Thoái hóa khớp là một loại bệnh khớp hay gặp, chiếm tỷ lệ 80% các bệnh khớp ở người trên năm mươi tuổi. Trong bệnh thoái hóa khớp, sụn bọc ở các đầu xương bị mòn, rách. Từ đó dẩn đến những tổn thương khác như hẹp khe khớp, tổn thương xương như mọc các gai xương, đậm đặc phần xương sát sụn. Bệnh nhân có cảm giác đau và cứng khớp, nhất là buổi sáng sau khi thức dậy hoặc đau tăng lên khi thời tiết lạnh. Nhiều người hay bị tình trạng các khớp ngón tay co cứng lại, phải dùng bàn tay kia bẻ nhẹ ra thì mới ngay lại được! Khi vận động các khớp bị thoái hóa còn nghe được tiếng răng rắc, lạo xạo trong khớp ! Hiện giờ y học vẫn chưa có cách giải quyết triệt để được bênh thoái hóa khớp. Để giảm đau, thày thuốc hay dùng loại thuốc giảm đau thông thường như Paracetamol, thuốc kháng viêm non-steroid. Tác dụng phụ của thuốc thường ảnh hưởng đến dạ dày. Bệnh nhân cồn cào, đau dạ dày, nhiều trường hợp nặng có thể gây xuất huyết. Thuốc kháng viêm còn giữ nước và có thể làm chỉ số huyết áp ở người có bênh cao huyết áp càng cao hơn. Ngoài ra còn có loại thuốc xem như có tác dụng “ bổ khớp ” như vitamin E, Omega3, sụn cá mập, glucosamin, chondroitin…Bên cạnh sự điều trị bằng thuốc, tôi xin được giới thiệu một phương pháp không những làm giảm đau mà còn tăng sự tuần hoàn, nuôi dưỡng vùng khớp bệnh mang lại sự dễ chịu cho bệnh nhân mà không có tác dụng phụ. Đó là dùng máy sấy tóc hơ nóng lên khớp mỗi ngày hai lần, mỗi lần năm đến mười phút. Kế đến là xoa bóp,day ấn vùng khớp bệnh mười lăm phút nữa. Các bạn có thể phối hợp với việc bôi các pomade kháng viêm, giảm đau như Salicyl Pomade, Salonpas gel, Diclofenac gel…

“ TRÚNG MƯA” :

clip_image010    

Hồi nhỏ tôi hay nghe người lớn nói bị “ Trúng mưa ”. Đi mắc mưa về cảm sổ mũi, nhức đầu, đau mình mẩy, sốt. Thường là những người có tuổi bị “ Trúng mưa ”.  Lúc đó tôi nghĩ mưa mà cũng Trúng. Tôi và các bạn nhỏ trong xóm dầm suốt cây mưa, chơi đùa, quậy phá, có thấy gì đâu. Tuy nhiên khi bắt đầu bước qua “ U50 ” rồi mới biết. Giống như “ mít ướt ”. Đi mưa về là có chuyện. Nóng đầu, nghẹt mũi, sổ mũi, đau mình…! Thiệt là càng có tuổi càng “ nhỏng nhẻo”. Và tôi thấy hồi này tôi càng dễ nhỏng nhẻo hơn. Nhiều khi từ chỗ làm việc đi qua chỗ gửi xe chỉ hơn hai mươi mét, về nhà cũng  bệnh phải uống thuốc ba, bốn ngày sau mới hết bệnh. Thật là bực mình. Nhưng từ lúc làm quen với anh bạn này ( chiếc máy sấy tóc ) thì câu chuyện “ Trúng mưa”  hình như là đã chấm dứt. Sau khi đi mưa, ngay lúc vừa về đến nhà, các bạn nên lau cho khô tóc và cơ thể, thay quần áo. Tiếp theo là cắm dây máy sấy tóc vào ổ điện hơ nóng gáy, hai tai, vùng gáy và dọc cột sống. Các bạn chú ý hơ nóng ở vùng T1 đến T3 ( từ huyệt Đại chùy đến Thân trụ ) Chỉ cần hơ nóng từ năm đến mười phút thôi. Bằng cách xử lý thật đơn giản này tôi đã chấm dứt được bệnh “ nhỏng nhẻo ” của mình. Các bạn nào có bệnh “ nhỏng nhẻo ” như tôi, xin mời, máy sấy tóc.

RƯỢU CŨ TIỄN KHÁCH MỚI:

clip_image012clip_image014     Như trong lời giới thiệu, tôi kể cho bạn câu chuyện của bản thân, tôi đã dùng máy sấy tóc để chữa bệnh Sốt rét cho mình vô cùng hiệu quả. Thỉnh thoảng trong đầu tôi vẫn nghĩ , không biết tại sao  hơi nóng tác động trên cơ thể có thể giải quyết được một bệnh nhiễm ký sinh trùng. Dĩ nhiên sức nóng từ máy sấy tóc không thể là kháng sinh ( tương tự như Chloroquin, Fancidar ) được. Nhưng tại sao cắt được cơn Sốt rét, tại sao lại có thể chấm dứt bệnh Sốt rét??? Chỉ còn một cơ chế nữa  là khi hơi nóng tác động trên cột sống, nơi xuất phát những dây thần kinh giao cảm và phó giao cảm đã làm tăng sức đề kháng của cơ thể. Nhưng tăng sức đề kháng cơ thể theo cơ chế nào thì thật là tôi không có điều kiện, trình độ để nghiên cứu cho ra lẽ. Trên thực tế tôi đã hướng dẩn vài bệnh nhân và họ cũng có được kết quả tốt như tôi. Kinh nghiệm điều trị sốt rét bằng cách dùng máy sấy tóc chưa được thực hiện trên nhiều người, nhưng vì đặc điểm đơn giản là bệnh nhân có thể tự mình áp dụng tại nhà, thu được kết quả tốt. Đồng thời hầu như không có tác dụng phụ nên tôi ghi lại đây. Có thể một lúc nào đó có ích lợi cho các bạn chăng.

Sau đây tôi xin nói rõ hơn về cách sử dụng máy sấy tóc để cắt và ngừa cơn sốt rét: Trước hết các bạn xác định 2 huyệt Đại chùy và Đào đạo ( ngồi thẳng lưng cúi đầu ra phía trước, dùng lòng các đầu ngón tay T đặt phía trên và giữa cột sống cổ di chuyển từ chân tóc xuống dần, khi chạm vào một chỗ lồi cao nhất ở vùng cổ thì đó là mỏm gai của đốt sống cổ C7. Giữa đốt sống cổ C7 và đốt sống D1, đốt sống ngay dưới C7,  là huyệt Đại chùy. Giữa đốt sống ngực D1 và D2 là huyệt Đào đạo. Các bạn có thể xác định sai vị trí huyệt một chút nhưng khi châm kim và hơ nóng vào vẫn cắt được cơn sốt rét. Sau đó dùng kim châm cứu châm vào hai huyệt trên với độ sâu 2mm ( tuyệt đối không châm sâu vì bên dưới là tủy sống ). Để kim châm cứu đúng độ sâu, các bạn dùng hai ngón tay cái và trỏ cầm kim cách đầu mũi kim 2mm rồi châm vào da rút kim ra ngay. Sau đó dùng hai ngón tay cái và trỏ bóp mạnh quanh vị trí vừa châm như động tác nặn máu. Cuối cùng là dùng máy sấy tóc hơ nóng dọc cột sống từ trên xuống dưới khoảng mười phút ( chủ yếu là hơ vùng huyệt Đại chùy và Đào đạo ). Cảm giác sau khi hơ nóng vùng châm cứu nóng ran lên ( cảm giác nóng tại chỗ này giảm dần sau ba mươi phút ). Mỗi ngày có thể áp dụng từ một đến ba lần. Hy vọng máy sấy tóc không chỉ làm đẹp cho quý cô quý bà mà còn dùng để chữa bệnh cho bạn nữa.

BS Huỳnh Hải

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Rau Qủa có thể trị bệnh

7 loại quả KHÔ có thể trị bệnh

1.  Loãng xương: Nho khô  (Grape)

Nho khô giàu boron, giúp làm giảm nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh. Nho khô có thể ăn cùng với sữa chua giàu canxi, làm tăng pecan – chất giàu boron nên có hiệu quả phòng chống loãng xương rất cao.

clip_image001 clip_image002

2.  Mệt mỏi: Táo tàu  (Jujube)

Khi mệt mỏi chúng ta thường thèm đồ ngọt nhưng nếu ăn nhiều đồ ngọt sẽkhông tốt. Thay vào đó hãy ăn táo tàu. Táo tàu với chỉ số glycemic thấp sẽkhông khiến lượng đường trong máu tăng mạnh, hơn nữa lại giúp bạn có cảm giác no và tăng năng lượng nhanh chóng, giảm mệt mỏi.

clip_image003

3.  Bệnh gout: Anh đào khô  (Cherry)

Quả anh đào (cherry) giàu anthocyanin, đạt hiệu quả rất tốt đối với bệnh viêm khớp và gout. Một nghiên cứu của trường Đại chọc Michigan (Mỹ) phát hiện, ăn nhiều quả anh đào có thể khiến bệnh khớp giảm tới 50%. Mỗi ngày bạn nên ăn khoảng 250g quả anh đào, có thể ăn làm nhiều lần trong ngày.

clip_image004clip_image005

4.  Huyết áp cao: Mơ khô (Apricot)

Hàm lượng kali trong mơ khô bằng 3 lần trong quả chuối mà kali lại có tác dụng hạ huyết áp. Một nghiên cứu gần đây của Trung tâm y tế Mỹ phát hiện, lượng kali nạp vào cơ thể giúp phòng ngừa bệnh huyết áp cao và bệnh tim.

clip_image006

5.  Viêm bàng quang: Quả việt quất (Bilberry)

Theo nghiên cứu của Mỹ, mỗi ngày ăn 2 nắm quả việt quất khô (khoảng 42,5g), có thể làm giảm “độ bám dính” của vi khuẩn E.coli trong các mẫu nước tiểu của bệnh nhân nữ, do đó nguy cơ viêm bàng quang cũng giảm. Nguyên nhân chính giúp quả việt quất có tác dụng kì diệu này là vì nó có chứa các hoạt chất proanthocyanidis có tác dụng chống vi khuẩn lưu lại ở bàng quang.

clip_image007clip_image008

6.  Táo bón: Mận khô  (Plum)

Một nghiên cứu mới cho thấy, mỗi ngày 2 lần mỗi lần ăn 6 quả mận khô (50g), sẽ có hiệu quả giảm táo bón tốt hơn cả uống thuốc. Mận khô giàu sorbose, giúp tăng độ ẩm phân, có tác dụng nhuận tràng.

clip_image009clip_image010

7.  Thiếu máu: Sung khô

Mỗi ngày ăn 4 quả sung khô có thể đáp ứng 1/4 nhu cầu sắt hàng ngày, giúp ngăn ngừa thiếu máu. Sung khô ăn cùng với nước cam ép giàu vitamin C, càng giúp cơ thể hấp thụ sắt.

clip_image011clip_image012

 
8 LOẠI RAU ĂN NGĂN NGỪA UNG THƯ

Với một số loại ung thư phổ biến đều có một thực phẩm gánh vác nhiệm vụ phòng bệnh quan trọng.

Chế độ ăn uống và ung thư cũng có mối quan hệ chặt chẽ. Ăn uống không đúng cách là một trong những nguyên nhân gây ung thư, ngược lại, ăn uống đúng cách có thể đem lại hiệu quả chống ung thư.

Ung thư phổi

Thực phẩm hàng đầu: Rau bina

12

Lý do: Rau bina có chứa nhiều chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa thiệt hại bởi gốc tự do gây ra. Ăn một bát rau bina mỗi ngày sẽ giảm nguy cơ ung thư phổi ít nhất là 50%. Ngoài ra, cà chua, cà rốt, bí đỏ, lê và táo cũng có thể ngăn chặn sự xuất hiện loại ung thư này.

Ung thư vú

Thực phẩm hàng đầu: Rong biển

34

Lý do: Rong biển không chỉ giàu vitamin E và chất xơ, mà còn phong phú về hàm lượng i-ốt. Các nhà khoa học tin rằng thiếu hụt i-ốt là một trong những yếu tố nguy cơ của ung thư vú, do đó, ăn rong biển có thể giúp ngăn ngừa ung thư vú. Lý do phụ nữ Nhật Bản có tỷ lệ mắc ung thư vú thấp hơn so với phụ nữ ở các quốc gia khác có thể liên quan đến việc tiêu thụ rong biển. Trong khi đó, khoai lang, cà chua, đậu cũng là những thực phẩm có thể ngăn ngừa ung thư vú. 

Ung thư ruột

Thực phẩm hàng đầu: Cây sả

00

Lý do: Cây sả, cần tây là những thực phẩm giàu chất xơ, khi vào trong ruột có thể đẩy nhanh tốc độ làm sạch các thức ăn thừa trong ruột, giảm các chất độc hại và thúc đẩy bài tiết cực kỳ hiệu quả, phòng chống ung thư đại trực tràng. Ngoài ra, tiêu thụ tỏi thường xuyên cũng giúp bạn giảm 30% nguy cơ ung thư ruột kết. Bên cạnh đó, khoai lang, cải bắp, lúa mì lại là những thực phẩm cực kỳ quan trọng trong việc ngăn ngừa ung thư đại trực tràng.

Ung thư tuyến tụy

Thực phẩm hàng đầu: Súp lơ

67

Lý do: Hội Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ gần đây đã chỉ ra rằng ăn súp lơ và các thực phẩm họ cải khác có thể làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tụy. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu cho thấy, củ cải cũng đóng góp vào việc gia tăng sức đề kháng của bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy. 

Ung thư da

Thực phẩm hàng đầu: Măng tây

89

Lý do: Măng tây là trong những loại rau đầu bảng giàu vitamin, axit nucleic và các thành phần khác có tác dụng nhất định trong phòng chống ung thư hạch, ung thư bàng quang, ung thư da. 

Ung thư cổ tử cung

Thực phẩm hàng đầu: Đậu nành

1011

Lý do: Đậu phụ, sữa đậu nành được làm bằng đậu nành (đậu tương), có chứa isoflavone, lignin được coi là có tác dụng chống oxy hóa, có thể ức chế sự phát triển của UTCTC, giảm phân chia tế bào ung thư, đồng thời có ngăn chặn sự di căn của khối u hiệu quả. Ngoài ra, cà chua cũng là thực phẩm phòng ngừa UTCTC tốt.

Ung thư dạ dày

Thực phẩm hàng đầu: Tỏi

12

Lý do: Những người hay ăn tỏi sống có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày là rất thấp, bởi vì tỏi có thể làm giảm đáng kể hàm lượng nitrit trong dạ dày - một trong những nguy cơ làm gia tăng ung thư dạ dày. Những người thường xuyên ăn hành cũng có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày thấp hơn 25% so với nhóm người còn lại. Ngoài ra, ăn thức ăn ít muối, cá hun khói, cá nướng cũng là một cách tốt để ngăn chặn ung thư dạ dày. 

Ung thư gan

Thực phẩm hàng đầu: Nấm ( coi chung an trung NAM Tau , thi chi co Chet ma thoi )

1314

Lý do: Nấm có chứa các lớp polysaccharide giúp ức chế hoạt động của các chất gây ung thư, có thể thúc đẩy hình thành kháng thể để cơ thể tạo ra miễn dịch với khối u, ức chế tế bào ung thư tăng trưởng để có thể đề kháng với nhiều loại ung thư, bao gồm ung thư hạch, ung thư ruột kết, và đặc biệt có lợi cho các bệnh nhân ung thư gan.

 

15161718192021

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Sự lợi hại của Tâm-Ý đối với thân bệnh, nghiệp bệnh và cách chữa bệnh bằng phương pháp "Nói Với Linh Hồn".

Phương pháp Khí Công Y Đạo có hai cách chữa bệnh :

A-Phương pháp KCYĐ chữa trên cơ thể vật chất :

Những quy luật căn bản của môn KCYĐ là Tinh-Khí-Thần hòa hợp được kiểm chứng kết quả bằng máy đo áp huyết, máy đo đường, nhiệt kế, và máy đo oxymeter.

Chữa bằng Tinh : Nếu áp huyết thấp, thiếu máu cần bổ máu. Áp huyết cao cần ăn chất chua là hạ áp huyết. Thiếu đường trong máu phải uống nước đưòng và đo áp huyết, đo đường mỗi ngày để kiểm chứng và theo dõi.

Chữa bằng Khí : Phải tập thể dục khí công những bài động công phù hợp với bệnh để làm tăng hay hạ áp huyết. hay làm giảm đ ường tiêu mỡ...

Chữa bằng Thần : Thần phải kết hợp với Khí theo dõi hơi thở ở 1 trong 3 đan điền : Đan điền Khí trên đỉnh đầu ở huyệt Thiên Môn làm tăng áp huyết. Đan điền Thần ở huyệt Cưu Vĩ làm tăng áp huyết, thân nhiệt, tăng tính hấp thụ và chuyển hóa thức ăn. Đan điền Tinh ở huyệt Khí Hải là mát cơ thể, dẫn nhiệt ra tay chân và làm hạ áp huyết và huyệt Mệnh Môn để chuyển tinh hóa khí, khí hóa thần.

B-Phương pháp KCYĐ dùng thể linh hồn chữa cho cơ thể vật chất :

Theo Đạo Học : Ý dẫn đầu các pháp,.

Phần thực tập bài này chú trọng đến thể Ý dẫn khí của thể Phách làm nhiệm vụ điều chỉnh cho khí huyết của cơ thể vật chất khỏe mạnh không bệnh tật.

Về tâm linh thì thể Ý liên kết cơ thể vật chất với thể linh hồn là thể khí. Tốc độ thể khí của linh hồn đi nhanh hơn tốc độ ánh sáng, nó kéo theo thể Thần, thể Hồn, thể Phách đi theo lệnh của tâm-ý, khi tâm-ý ra lệnh thầm trong đầu với mệnh lệnh rõ ràng để chữa bệnh gì cho cơ thể theo ý muốn.

Với phương pháp này, áp dụng trong việc chữa bệnh và khai mở những tiềm năng con người mau đạt được kết qủa, như khai mở luân xa, khai mở con mắt thứ ba là nhãn thông, khai mở nhĩ khiếu là nhĩ thông, tha tâm thông...

1-Điều khiển khí huyết bằng Tâm-Ý để chữa bệnh hay là phương pháp Nói với Linh Hồn :

Những bài tập thở thiền chỉ dùng Ý dẫn khí của tạng phủ đi theo kinh mạch của cơ thể vật chất.

Nó kém hiệu lực hơn phương pháp dùng Tâm-Ý điểu khiển thể khí của linh hồn, không đi theo kinh mạch mà đi theo lệnh từ Tâm-Ý, phát ra một mệnh lệnh trong đầu được lập đi lập lại liên tục đều đặn theo mỗi hơi thở và dùng Ý nghĩ đến một điểm nào ở cơ thể để có thể cảm nhận được cảm giác nóng hay lạnh khi khí huyết chạy theo mệnh lệnh, đó là dùng tâm-ý dẫn khí của thể linh hồn để chữa cho thân bệnh.

Phương pháp này ở Việt Nam gọi là Tĩnh Khí Công Ý Thức do Khí Công Sư Nhật Quang Tử Hoàng Vũ Thăng khai sáng từ năm 1991, được Nhà văn Nguyên Bình học ở Côn Sơn và đem hướng dẫn cho những bệnh nhân bị mù mắt áp dụng thực hành có kết quả chữa khỏi bệnh mù mắt. Nhà văn Nguyễn Bình đã biến cải thành phương pháp đơn giản đặt tên là Dưỡng Sinh Phục Hồi Chức Năng, được tập luyện theo phương pháp mà ông dạy. (xem thêm chi tiết ở cuối bài)

Như vậy, tất cả những phương pháp tập khí công, luyện thở tĩnh công thiền, hay phương pháp dùng Tâm-Ý-Thần-Khí hợp nhất đều dựa theo phương pháp Đạo Học xuất phát từ Y-Dịch cho rằng những sự biến hóa của Âm-Dương trong cơ thể sẽ tạo ra một năng lượng âm, tác động đồng bộ với sự biến hóa âm dương của vũ trụ tạo ra một năng lượng dương, nếu biết cách hòa hơp lại được sẽ thành ra một năng lượng siêu nhiên được gọi là Điển Quang.

Điều khám phá này cũng đã được thế giới biết đến qua 7 định luật tạo ra được năng lượng siêu nhiên do luật sư Victor Zammit nghiên cứu viết ra dưới tựa đề là The Seven Laws of Psychic Energy, http://www.pkduong.net/2009/11/bay-inh-luat-ve-nang-luong-sieu-nhien.html

Định luật này cũng đã được Môn Trường Sinh Học của Ông Lương Minh Đáng và Bà Huesa ứng dụng, nhưng không chấp nhận sự ràng buộc tu theo một tôn giáo nào nên có sự phân hóa qua 2 websites khác nhau : http://www.huesa.org/

và diễn đàn nhân điện : http://www.ue-global.com/showthread.php?t=1421

2-Nhiều loại năng lượng thanh điển và trược điển :

Nhưng người ta chỉ biết đến năng lượng vũ trụ là nói về năng lượng trong không gian hữu hình theo khoa học mà thôi, còn trong Đạo Học vẫn tồn tại năng lượng trong không gian vô hình của 10 cõi gồm có nhiều năng lượng tốt xấu, lành dữ, thiện ác khác nhau.

Có 5 loại năng lượng tốt lành nhất gọi là điển quang thường gọi là điển thanh, tính từ thấp đến cao là cõi trời tiên giới, cõi thánh thanh văn, duyên giác, cõi bồ tát, cõi Phật. Muốn có điển thanh nhất thì từ thầy dạy đến người tu luyện đều phải biết tu học Đạo.

Năng lượng cõi người thì gọi là nhân điện. Còn 4 cõi dưới ngưòi là cõi thần, cõi qủy, cõi súc sanh, cõi địa ngục không gọi là điển quang mà gọi là điển trược.

Nếu từ thầy đến trò không biết tu đạo thì chỉ có được điển trươc vào mà thôi, thường là điển trược của qủy thần (như Sa Tăng, Lucifer, các thần đất đai, các thần Ai Cập tái sanh.....vì còn có nhiều tham vọng ái dục, giận hờn si mê, ganh ghét...) .

Cho nên một người được mở luân xa thì năng lượng âm dương vô hình trong cơ thể là những thể vía thể hồn bắt được năng lượng siêu nhiên trong không gian vô hình thì chỉ nhận bắt đưọc năng lượng có tần số rung động sóng năng lượng phù hợp với trình độ của mình mà thôi.

Nhiều người cho rằng điển quang cõi thượng thiên là cao nhất, thật ra chỉ thuộc cõi trời Dục Giới vì còn tham-sân-si ngã mạn, còn ăn mặn, tưởng đâu mình đã đắc đạo, nên cứ tưởng rằng mình đang đươc học hỏi và thu nạp được điển quang thượng thiên và đạt được minh triết. (tìm hiểu thêm cõi thượng thiên trong 33 tầng trời ):

http://adidaphat.jimdo.com/33-t%E1%BA%A7ng-tr%E1%BB%9Di-trong-tam-gi%E1%BB%9Bi/

Nếu họ có ăn chay giữ giới luật thì có thể nhận được thanh điển, còn không tu học giữ giới họ cũng có thể bị ma hay qủy ở cõi thấp nhập qua luân xa đã được mở ngỏ .

Riêng phương pháp Khí Công Y Đạo thì cần tu học đạo là giai đoạn cuối cùng của môn học KCYĐạo, phải giữ 5 giới hạnh : không sát sanh, trộm đạo, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu hút thuốc, luôn giữ cho thân, khẩu, ý, phải chân thật, thiện lành, hữu ích, như tôi đã viết trong phần mở đầu cuốn sách Khí Công Y Đạo, mục đích học đạo, hành y đạo, hướng dẫn mọi người phương pháp tự cứu độ thân nghiệp bệnh của mình. Do đó khi tập thu nạp năng lương siêu nhiên ở không gian vô hình thì sẽ nhận được điển quang thấp nhất ở cấp tiên thánh dạy lên dần dần đến điển quang của chư Phật. Những người còn ăn mặn thì không thể nào có được thanh điển của chư Phật, vì còn ăn thịt chúng sinh động vật thì chưa lên được tâm của bồ tát, thì điển quang chưa phải là Phật quang.

3-Phương pháp tự chữa bệnh bằng Tâm- Ý : Nói Với Linh Hồn.

Đề nghị các Thầy KCYĐ hãy thử nghiệm phương pháp này một thời gian rồi cho biết kết qủa với những bệnh sau đây :

1-Bệnh Áp Huyết Cao hay Thấp :

a-Để bệnh nhân nằm ngửa, nhắm mắt ngậm miệng, thở bình thường bằng mũi. Hai cánh tay song song thân người. Đo áp huyết trước khi tập từ 180-220/90-104mmHg nhịp tim 80-90, nhiệt độ trên trán 37-30 độ, trên ngực 38 độ, bụng 36.5 độ, chân 36 độ..

b-Bảo bệnh nhân theo dõi hơi thở tư nhiên 1 phút, khi cảm nhận được bụng phồng lên xẹp xuống, thay vì dùng Ý dẫn khí như thở thiền, thì chỉ cần ra lệnh trong đầu cho thể hồn một mệnh lệnh : Làm ấm chân cho áp huyết xuống. Mệnh lệnh này lập lại liên tục đều để nhắc linh hồn, thì thể hồn dẫn thể phách đi xuống, bệnh nhân có cảm giác chân ấm. Sau khi tập vài phút, kiểm chứng đo bằng nhiệt kế, nhiệt trên đầu giảm còn 36.5 độ, ở chân tăng lên 36.7 độ, áp huyết xuống 150...tiếp tục chú ý lập lại mệnh lệnh thêm 1-2 phút nữa thì áp huyết xuống đến 120mmHg.

b-Cũng vẫn bệnh nhân này, cho đổi mệnh lệnh : Làm nóng đầu tăng áp huyết. Khi bệnh nhân cảm thấy đầu ấm nóng, kiểm chứng lại bằng máy đo áp huyết tăng lên 150mmHg,

Dặn bệnh nhân về nhà tiếp tục tập cách này đểu để tự điều chỉnh áp huyết cao hay thấp, 1 tuần lễ sau tái khám, áp huyết ổn định 130-140mmHg.

2-Bệnh đường cao trong máu

a-Cũng cách nằm như trên, thử đường trước khi tập là 9.6mmol/l. Ra mệnh lệnh : Làm ấm Mệnh Môn hạ đưòng trong máu. Lập lại đều liên tục để nhắc nhở linh hồn, phải lâu hơn 5 phút trở lên, cho khí huyết tuần hoàn chuyển hóa đường. Đo kiểm chứng lại còn 8.1mmol/l. Nếu muốn xuống nữa thì tập tiếp tục.

3-Chữa các bệnh đau nhức :

Tùy theo cảm giác cái đau do nóng hay lạnh.

a-Nếu nơi đau do nóng thì ra mệnh lệnh cho linh hồn : Làm lạnh (nơi đau) để giảm đau.

b-Nếu nơi đau do hàn lạnh thì ra mệnh lệnh ngược lại : Làm nóng (nơi đau) để giảm đau.

4-Nếu bệnh nhân không tập trung Ý Thức đuợc :

Bảo bệnh nhắm mắt nghe mình truyền lệnh, thì để ý mỗi lần bệnh nhân thở ra bụng xẹp thì mình phát lệnh ra tiếng cho bệnh nhân nghe theo. Kết qủa cũng như bệnh nhân tự làm.

5-Lời nói linh ứng.

Bệnh nhân càng có kết qủa khi người thầy chữa có tu và ăn chay làm lành, bố thí, trì giới. Lúc đó lời nói của mình là một mệnh lệnh, một lời tiên tri nó sẽ xảy ra, vì mình có thần lực hay huyền lực điều khiển được linh hồn người khác, cho nên phải cẩn thận lời nói, không nói lời nguyền rủa trù dập người khác nó cũng sẽ linh ứng.

Đó cũng là một hình thức thôi miên bằng lời nói, nó như một mệnh lệnh sai khiến linh hồn người khác, nên các vị chân tu luôn nói lời nói tốt lành ban phước vô vụ lợi, chỉ ban vui cứu khổ thì bệnh nhân khỏi bệnh. Ngược lại phù thủy nói lời trù dập nguyền rủa có tính cách thu lợi do bởi tham sân si, thì người có linh hồn yếu đuối sẽ bị hại.

6-Tự tập luyện để có khả năng siêu việt.

Cũng bằng phương pháp Nói Với Linh Hồn. Mỗi khi tập thở thiền theo CD Niệm A-Di-Đà-Phật cho những Phật tử, hay A-Mi-Ta-Bha ( Thượng Đế) cho những người khác tôn giáo. Ra những mệnh lệnh như : Nóng đỉnh đầu khai mở Luân Xa 7. Nóng Ân Đường khai mở mắt thứ ba. Linh hồn khai thông nhĩ khiếu. Linh hồn phình to lên (khi thở vào). Linh hồn thu nhỏ lại. Linh hồn xuất ra khỏi đỉnh đầu...

Khi các luân xa đã khai mở, phải giữ chánh niệm A-Di-Đà-Phật hay AMITABHA, bỏ điều ác, làm điều lành, bố thí, trì 5 giới, thì sẽ không bị qủy thần hay những phù thủy sai khiến được linh hồn mình làm tay sai cho tà đạo để hại mình hại người sẽ phải chịu nghiệp báo..

Mọi người hãy mạnh dạn thực tập, thời gian sẽ thu được kết qủa tốt cho mọi người. Chúc mọi người thành công để vượt thoát khỏi khổ đau bệnh tật trong cõi ta bà này để linh hồn tiếp tục học hỏi thăng tiến trở về nguồn cội.

doducngoc

----------------

Xem thêm : BÀI TẬP DƯỠNG SINH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG (Nhà Văn Nguyên Bình )

(Cho cả người mù và người bệnh) Chương trình Ánh sáng của người mù

Người tập ngồi hoặc nằm ở tư thế thoải mái nhất. Người sáng mắt cần nhắm mắt lại. Thở nhẹ nhàng thật đều từ 1 đến 2 phút.

Hiệu ứng nóng

Ra lệnh trong đầu, thỉnh thoảng nhấn đi nhấn lại : CẢ CƠ THỂ NÓNG LÊN (tức là tưởng tượng cơ thể nóng lên). Nhẹ nhàng tập trung theo dõi độ nóng tăng dần, ban đầu có thể chỉ cảm thấy từ một vài vùng sau lan ra khắp người. Mới tập chưa quen, hãy tạm chia ra từng vùng để theo dõi (đầu, ngực, bụng, tứ chi).

Mỗi lần tập từ 15 đến 20 phút. Sau khi đã thấy rõ và điều khiển được hiệu ứng nóng ở từng vùng và cả cơ thể, chỉ cần tập từ 7 đến 15 phút.

Các hiệu ứng , hiệu ứng căng giãn, hiệu ứng chuyển động đều tập như hiệu ứng nóng.

Chú ý: Chỉ buông lỏng, ra lệnh (tưởng tượng) và theo dõi cơ thể, không lên gân tạo ra hiệu ứng. Tập riêng từng hiệu ứng cho tới khi cảm thấy rõ. Mỗi hiệu ứng tập một đợt (10-15 phút). Mỗi ngày tập ba đến bốn lượt, vào lúc thấy thoải mái nhất. Ban đầu nên chọn lúc yên tĩnh (tương đối); sau khi thuần thục, tập vào lúc nào cũng được.

Sau một thời gian, dài ngắn phụ thuộc từng người (có người vài ngày, có người vài tháng), chỉ cần thấy rõ hai trong bốn hiệu ứng là tốt.

Thở bằng cả cơ thể

Bắt đầu tập như khi tập các hiệu ứng vật lý ở trên.

Trong nhịp hít vào, hình dung, theo dõi cả cơ thể nở (giãn) ra; nhịp thở ra hình dung cơ thể co nhỏ lại.

Chú ý: thở thật bình thường, không thở bằng bụng. Cũng như khi tập các hiệu ứng, ban đầu chia ra theo dõi từng khu vực, cho đến khi thấy rõ cả cơ thể nở ra co lại theo nhịp thở. Mỗi đợt 10 đến 15 phút. Ngày tập 3 đến 4 lượt.

Điều khiển cơ thể tự thở

Ở tư thế chuẩn bị vào tập từ 1 đến 2 phút. Ra lệnh thầm trong đầu (tưởng tượng hay hình dung): CẢ CƠ THỂ TỰ THỞ, nhán đi nhấn lại, tập trung theo dõi nhịp nở ra co lại của toàn thân. Thỉnh thoảng ngưng thở trong giây lát sẽ thấy cơ thể tự thở không theo nhịp thở của phổi. Mỗi đợt tập như hai phần trên. Ngày 3-4 đợt.

Về hình thức, đây là bước tập tưởng đơn giản, song rất khó. Điều khiển cơ thể tự thở, sẽ giải quyết căn bản mọi loại bệnh, người mù tháy lại ánh sáng.

Điều khiển toàn bộ tế bào tự thở

Làm như phần trên, chỉ khác lệnh thầm nhắc lại trong đầu (tưởng tượng hay hình dung): TOÀN BỘ TẾ BÀO TỰ THỞ. Thời gian đợt tập như trên. Đây là bước tập quyết định người mù có thể sinh hoạt bình thường như người có mắt, người bệnh khỏi triệt để.

Sau 1 đến 2 tháng, trong một đợt, có thể tập tất cả các bước, một ngày tập nhắc đi nhắc lại những phần tập chưa tốt.

Người nhạy cảm có thể thấy sớm tất cả các yêu cầu của bài tập. Người thiếu nhạy cảm, càng cần kiên trì.  Hãy tự chủ lo cho mình. Nếu có mất, chỉ mất đi bóng tối và bệnh tật.

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2013

Phương pháp chữa bệnh ung thư bằng Đạo học

Phương pháp chữa bệnh ung thư bằng Đạo học (tiếp theo bài Cấu trúc 7 thể tâm linh trong con người)

A-Trong cấu trúc cơ thể con người gồm 7 thể tâm linh là :

1-Thể xác.: Là cơ thể vật chất do các tế bào hợp thành tạng phủ, da thịt, gân, xương, máu…giống như sư cấu tạo của một máy điện toán thuộc phần đĩa cứng. Nó chưa có thể hoạt động được nếu không có phần mền vận hành.

2- Sáu thể còn lại là : Thể phách, thể vía, thể hồn, thể ý, thể hạ trí, thể thượng trí. Người thế gian gọi chung một danh từ là phần Linh Hồn.  Khi người mẹ thụ thai, khí huyết của người mẹ sẽ cấu tạo ra một cơ thể vật chất và nuôi dưỡng nó trong bào thai cho đủ 9 tháng 10 ngày, nó sống được là nhờ khí huyết của mẹ gọi là khí tiên thiên. Khi cơ thể vật chất thành hình đầy đủ thì thể phách là một phần linh hồn nhập vào thai trước để duy trì sự sống cho bào thai, giúp tuần hoàn máu. Thể hồn nhập vào bào thai cuối cùng. Nhưng khi chết, thể hồn xuất ra trước bỏ lại xác, cho đến khi thể phách không còn duy trì được hơi thở thì xuất ra cuối cùng lúc đó cơ thể vật chất chết hẳn.

B-Chức năng của các thể thuộc phần linh hồn :

Thể phách là phần hồn duy trì chức năng hô hấp của phổi, giúp tim đập bơm máu tuần hoàn, lưu thông khí huyết duy trì sự sống cho thể xác. Thể vía là phấn linh hồn giúp cơ thể, tạng phủ vận hành, cử động. Thể hồn là phần linh hồn giúp cho chức năng thần kinh hoạt động biết cảm giác, phản xạ cho ra những cảm xúc tình cảm. Thể ý là phần linh hồn tàng trữ kiến thức cũ tích lũy từ nhiều kiếp qúa khứ (a lại da thức). Thể hạ trí là phần linh hồn do thu nhận kinh nghiệm học hỏi những kiến thức mới trong đời sống hiện tại cũng nhập vào thể ý để điều khiển tâm thức, nó thành hình kiến chấp và sở tri kiến chấp để tạo ra nghiệp lành nghiệp dữ, tạo ra vô số những màn vô minh che lấp cản trở sự tiến hóa học hỏi của linh hồn. Thể thượng trí không có trong bộ não người thường nhà Đạo gọi là phàm phu, mà chỉ có ở những người chứng ngộ đạo, ở những bậc thánh nhân, biết được quy luật vạn pháp do tâm sinh, vạn pháp do tâm diệt, vạn pháp là huyễn, sắc tức thị không, không tức thị sắc, nên tâm không còn dính mắc trần cảnh, bởi sắc thọ tưởng hành thức.
Nói về bệnh tật, thì Thể Hạ Trí mới tạo ra sự phân biệt như cho rằng tây y là khoa học thực nghiệm chữa cụ thể vào ngọn, còn đông y theo ngũ hành chữa bệnh vào gốc.

C-Phân âm dương trong cơ thể :

Theo Dịch lý, Thần thuộc khí tiên thiên, gồm âm thần và dương thần. Khi còn sống âm thần gọi là tinh là âm chủ huyết, dương thần là khí hô hấp. Khi chết thì tinh gọi là hồn, khí gọi là phách. Khí sống thì nhờ dương khí chủ động vận hành sự sống, khí chết thành âm khí gọi là hồn phách.
Hồn có thanh ở nơi dương khí ban ngày xuất ra nơi mắt, nên đông y nói gan khai khiếu ra mắt, người tây phương nói con mắt là cửa sổ của linh hồn.
Phách ở thể động ở nơi tai nghe, thể tĩnh ở nơi măt thấy.
Phách có truợc ở nơi âm khí ban đêm xuất ra ở gan, nên ban ngày mắt thấy thu vào hồn, phách ban đêm ở gan làm ra chiêm bao.
Chiêm bao nhiều thì phách thắng hồn, còn thấy biết nhiều thì hồn thắng phách.

D-Bệnh nhân muốn hết bệnh, không bị bệnh phải làm sao ?

Phải cần phải học hiểu Đạo để phát triển Thể Thượng Trí.
Do kinh nghiệm của các bậc thượng trí, thánh nhân, thì Tánh và Mạng song tu hợp nhất là Đạo, nên môn học Đạo là con đường cuối cùng của môn học Khí Công Y Đạo.

Mạng là thể vật chất là thể xác mang chất âm, có thể sờ mó nhìn thấy được, nó cũng được nuôi sống các tế bào bằng những thức ăn nên thuộc phần Tinh âm.

Tánh là thể linh hồn không thấy được nên thuộc phần Khí dương. đưọc biểu hiện trên thân xác là Thần khí, là khí và mầu sắc của khí, có nghĩa là da thịt hồng hào, thân thể nhanh nhẹn, không bệnh tật. Đạo gọi là Thần với Khí hòa hợp.  Về Phật học : Phật tại tâm, ngoài tâm không có Phật. Phật là Tánh đã giác ngộ, như vậy sự giác ngộ nhờ tâm, ở tại tâm, mà tâm của con người chính là Thần và Khí trong thân xác của ta, khi Thần Khí hòa hợp không bị vô minh che lấp làm loạn động thần khí thì thân xác không bệnh tật, cao hơn nữa, trên con đường học hiểu đạo để đạt Đạo mới trở thành thánh nhân.
Thế gian thường nói : Cha mẹ sanh con, trời sinh Tánh. Như vậy Tánh là linh khí tiên thiên tàng ở tâm mỗi người trở thành Thần. là linh hồn của tiền kiếp tái sanh trong một thân xác mới. Còn Mạng là nguyên khí hậu thiên nuôi dưõng thân xác nuôi dưỡng thần cũng ở tâm, còn khí tụ ở thân tạo ra thân xác khỏe mạnh hay gầy yếu.

Tánh+Mạng tuy hai mà nhập thành một vì Thần chẳng lìa Khí, cũng như Tánh chẳng lìa Mạng.
Phàm phu nhìn con người chỉ đơn giản có hai thể là Thể Xác và Linh Hồn chứa nhiều tánh linh, như là những vị thần, nên theo ngũ hành của đông y về chức năng của những phần hồn này chia làm 5 loại : Tâm tàng Thần, tỳ tàng Ý, phế tàng Phách, thận tàng Tinh và Chí (nghị lực), gan tàng Hồn được nuôi dưõng huân tập tốt xấu bằng khí hậu thiên (khí hậu thiên là vật chất và tinh thần của con người được nuôi dưỡng sau khi sanh ra).
Gan tàng hồn, dự trữ máu cung cấp cho tim bơm máu tuần hoàn, ngũ hành thuộc mộc, mầu xanh. Khi cơ thể vật chất đau đớn nhiều do thiếu máu, mất máu, lúc đau đớn hành hạ cơ thể, thì có biểu hiện da và mặt xanh xao, lúc đó thể hồn xuất ra ngoài, nên chúng ta thấy người bệnh nặng như người mất hồn, mộc hư thì hỏa hư, hỏa thuộc tâm tàng thần nên khi nhìn mặt bệnh nhân thấy cũng mất thần sắc.

Điều quan trọng để duy trì sự sống cho thể vật chất là phải duy trì thể hồn đừng rời bỏ cơ thể. Gan là nhà ở của thể hồn, mà căn nhà hư hỏng thiếu tiện nghi, căn nhà sụp đổ thì thể hồn mất nơi cư trú, nó sẽ rời khỏi thể xác, vì thế cơ thể sẽ chết. Căn nhà sụp đổ có nghĩa là gan thiếu máu trầm trọng, không cung cấp máu cho tim tuần hoàn, làm các tế bào chức năng mất nuôi dưỡng, khí huyết thiếu, tắc, ngưng hoạt động gây ra đau đớn cho cơ thể toàn thân, chúng ta đã biết được điều này khi đo áp huyết ở những bệnh nhân không còn ãn uống gì được nữa thì áp huyết chỉ còn dưới 80mmHg trong các bệnh ung thư nặng.

Những trường hợp này vẫn còn có thể cứu sống được, nhưng cần phải biết bất cứ chữa cách nào theo đông tây y, theo thuốc đặc trị diệt tế bào ung thư, hay thuốc gia truyền hay bất cứ loại thần dược nào, mà áp huyết tăng lên dần dần cho đủ130mHg là khỏi bệnh, lúc đó cơ thể đủ khí huyết tuần hoàn sẽ hết đau đớn, ngược lại áp huyết tụt xuống 70mmHg thì cơ thể quá đau đớn thì thể hồn sẽ lìa khỏi xác, đứng ra bên ngoài cơ thể. Nếu cơ thể được tiếp truyền máu làm tăng áp huyết thì thể hồn sẽ lại nhập vào cơ thể để giúp chức năng gan hoạt động co bóp bơm máu cho tim tuần hoàn, cái đau sẽ giảm dần và biến mất.

Như vậy muốn điểu trị những bệnh ung thư là phải cần tiếp máu bổ máu, chứ không phải thuốc diệt tế bào ung thư, hay thuốc giảm đau morphin, vì căn nhà gan sụp đổ vẫn không được sửa chữa tức là tiếp máu cho gan đầy đủ, như thế thì thể hồn vẫn bị mất nơi ở đành phải xuất ra ngoài không còn giúp gì cho sự co bóp gan để cho tim tuần hoàn máu, vì không còn máu trong gan, càng làm cơ thể tăng cái đau nhiều hơn cho đến chết. Còn morphin là giết chết thần kinh cảm giác, làm các chức năng hoạt động yếu dần cho đến khi ngưng hẳn, linh hồn giống như bị bỏ rơi đuổi ra khỏi căn nhà, bị Ý dẫn theo tâm thức lúc cận tử nghiệp lành hay dữ, nơi thể Phách thoát ra khỏi xác.

Khi thể hồn đã xuất ra, thì thể linh hồn thuộc khí, chúng ta không thấy bằng mắt thường, chỉ thấy được bằng con mắt thứ ba. Đặc biệt thể hồn không bao giờ bị bệnh, tàn tật, hay đau đớn. Chúng ta biết được điều này qua những giấc mơ, như một người bị bệnh tê liệt chân tay không cử động được, không nói được, hay cụt tay chân...nhưng trong giấc mơ cơ thể vẫn nguyên vẹn đầy đủ, vẫn đi đứng cử động ăn nói bình thường, còn có thể đi chơi xa từ nước này đến nước khác và trở về nhập lại vào xác nhờ một sợi dây bạc vô hình, thể hồn giống như con diều, sợi dây bạc vô hình giống như sợi dây diều, thể xác giống như người cầm dây diều.

Cách chữa những bệnh ung thư hiện nay theo tây y gọi là khỏi bệnh hết tế bào ung thư chỉ là để cứu thể xác bằng phương tiện vật chất, tức là cứu Mạng chứ chưa khỏi hẳn hoàn toàn vì tây y không xem tình trạng khí huyết trong cơ thể là quan trọng, nên áp huyết hơn 100mmHg cho là tốt, nhưng nó chưa lên đủ tiêu chuẩn tuổi, dễ bị tụt thấp xuống trở lại thì cho là di căn. Các phương pháp chữa bệnh hiện nay không biết cách giữ linh hồn để linh hồn được tồn tại lâu trong thân xác kéo dài mạng sống và tuổi thọ.

Vì theo ngũ hành, gan tàng hồn thì gan phải đầy đủ máu, có nghĩa áp huyết phải được duy trì đúng tiêu chuẩn tuổi, gan muốn mạnh thì mẹ của gan là thận tàng tinh, để sinh ra tế bào cũng phải được thức ăn bổ máu chuyển hóa cung cấp từ bao tử tạo ra chất bổ máu, và máu cần nhiều oxy để bảo quản máu phải do hơi thở thì chức năng của phổi phải hoạt động tốt bằng cách luyện thở để duy trì thể Phách, khi hơi thở ở phổi yếu dần thì thể phách xuất ra khỏi cơ thể cuối cùng, tim sẽ ngưng đập. Cho nên đông y muốn chữa khỏi những bệnh ung thư hay bệnh nan y thì cần phải duy trì 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần hòa hợp.
Nếu không cứu linh hồn, chuyện gì sẽ xảy ra sau khi hồn lìa khỏi xác. Vì Linh hồn chỉ mượn từ thân xác này đến thân xác khác tiếp tục học hỏi và tiến hóa trải qua nhiều đời...nếu tiến hóa cao thì trở thành thánh nhân, tiến hóa lùi trở thành phàm phu đều do phút lâm chung hồn lìa khỏi xác để tái sanh trong 3 cõi luân hồi :

Xem thêm chi tiết 3 cõi :
http://www.thegioivohinh.com/diendan/sh ... .php?t=224

E-Cách cứu linh hồn :

Chúng ta nhớ quy luật :

Hồn phách hay tinh khí gọi chung là thần, mà hồn giống như ngọn gió, còn phách giống như luồng khí. Nên khí của phách thanh nhẹ thì bay lên theo gió là hồn, còn phách trược theo gíó đi xuống.
Thánh nhân lấy hồn kéo phách lên. Phàm phu lấy phách kéo hồn xuống, vì phàm phu hay có ý móng khởi, phân biệt làm cho thần của ngũ hành cứ sinh sinh hóa hóa luân hồi chẳng dứt. Còn thánh nhân, tánh không dời đổi, tâm không móng khởi thì không dẫn ý theo hồn theo phách, nên không sinh không tử, dứt vòng luân hồi sanh tử, hay nói khác đi, không có bệnh nào sinh ra, không có bệnh nào bị diệt, bệnh do tâm sanh, bệnh do tâm diệt.
Phách điều khiển hơi thở, là khí, nơi nào có khí đến thì huyết đến, có nghĩa là chỗ nào có máu chạy thì chỗ đó nóng ấm, theo đông y thì thể Ý dẫn khí là dẫn thể Phách.

Khi lâm chung, hồn phách lìa khói xác, máu ngưng không lưu thông trong cơ thể vật chất để lại thể xác lạnh ngắt. Muốn biết linh hồn xuất ra khỏi cơ thể ở chỗ nào thì chỉ có chỗ đó còn hơi ấm nóng tùy theo vị trí thể phách xuất ra để biết sự tiến hóa của linh hồn ở thân kiếp sau :
Đỉnh đầu ấm về cõi Phật, trán ấm về cõi thánh, ngực ấm trở lại làm người, bụng ấm linh hồn rơi xuống cõi qủy thần, ấm đầu gối xuống cõi súc sanh làm thú, ấm dưới chân rơi vào cõi địa ngục.

Khi bào thai thành hình đầy đủ, linh hồn nhập vào ngũ hành tạng phủ thì gọi là Tiên Thiên Dương Ngũ Hành giúp cho Tánh+Mạng biết giữ gìn kỷ cương là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.
Nguyên Thần hỏa nhập vào tâm, biết giữ Lễ. Nguyên Tinh kim nhập vào Phế biết giữ Nghĩa. Nguyên Tinh thủy nhập vào thận, biết giữ Trí. Nguyên Tinh mộc nhập vào gan biết giữ Nhân. Nguyên Khí thổ nhập vào trung ương Tỳ, biết giữ Tín
Thánh nhân nói : Nhân chi sơ tính bản thiện nhờ khí tiên thiên, 6 căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chưa nhiễm thọ 6 trần cảnh xấu như :
Mắt ưa xem huyễn cảnh hàng ngày. Tai thích tiếng mật đường dua nịnh. Mũi quen ngửi mùi thơm bất tịnh. Lưỡi dệt thêu lắm chuyện gay go. Thân ham dùng gấm vóc se sua. Ý mơ tưởng bao la vũ trụ.

Khi tiếp xúc với đời sống hàng ngày, bị huân tập nhiều tánh xấu do sự nuôi dưỡng thể xác và học hỏi kinh nghiệm cảnh trần mới tạo ra Hậu Thiên Âm Ngũ Hành, thì ngũ hành bị biến đổi phân hóa :
Nguyên Thần hỏa giữ Lễ biến ra Thức Thần thành Lạc, ưa thích An ổn
Nguyên Tinh kim giữ Nghĩa biến ra Qủy Phách thành Nộ, ưa thích Giận.
Nguyên Tinh thủy giữ Trí biến ra Qủy Thần thành trọc tinh, ưa Ái dục
Nguyên Tinh mộc giữ Nhân biến ra Du Hồn thành Hỉ, ưa thích Vui
Nguyên Khí thổ giữ Tín biến ra Dục Vọng thành Ý, ưa thích Ham muốn suy nghĩ lung tung

Theo giáo lý của Đạo Phật : Nhất thiết duy tâm tạo, Ý dẫn đầu các pháp. Ý thuận theo ngũ hành thì phàm nhân bị phân hóa từ một điểm linh quang khi thụ thai, một bản thể không có âm dương thành dương khí tiên thiên và âm khí hậu thiên sanh ra vạn hữu mới có khổ đau sanh tử luân hồi, phiền muộn, sa đọa, phân tán thì chẳng có gì cao đẹp trên con đường học hỏi và tiến hóa. Ngược lại thánh nhân biết dừng Ý, giữ Tinh-Khí-Thần hòa hợp trở về trạng thái duy nhất, chuyên nhất, gọi là nguyên khí, nguyên tinh, nguyên thần hợp nhất với thần linh, biết tu đức luyện thần trở về cội nguồn là Đạo, không còn âm-dương mà âm dương hợp nhất gọi là Đạo.
Với nguyên tắc Đạo Học để chữa thân bệnh, nghiệp bệnh giúp linh hồn tiến hóa trở về Chân Ngã cần phải áp dụng phương pháp Tánh+Mạng song tu hợp nhất, phải bắt đầu từ Ý kết nối thể xác và linh hồn, giũ Thần với Khí nhất tâm hòa hợp không móng khởi tâm viên ý mã, lúc đó thần có nơi an trụ vững vàng thì thân không bệnh tật khi còn sống và được tự tại vãng sanh, lìa khỏi đớn đau khi hồn rời khỏi xác thoát ra đỉnh đầu.

F-Nguyên tắc chung chữa các bệnh ung thư :

1-Giữ cho gan đủ máu để dưỡng thần sắc, bằng cách tiêm vào máu B12 để cơ thể khỏi đau đớn do thiếu máu trong gan, để duy trì thể hồn không lìa khỏi xác. Cần phải bỏ ngã chấp tri kiến và sở tri kiến là những màn vô minh học hỏi huân tập từ thế gian làm trở ngại sự phục hồi tánh mạng hợp nhất, làm loạn Ý. Nhưng vì tây y không tin ung thư là do thiếu máu, nên không chịu chích B12 hay truyền máu nên bệnh nhân mới bị chết vì tế bào thiếu máu bị chết dần.
Có thể mua B12 loại chích có bán trên mạng, nhờ y tá chích mỗi ngày, giúp phục hồi sự sống cho các tế bào, làm ăn ngon, lên cân, giảm đau, khi áp huyết từ tình trạng ung thư nguy kịch 70mmHg tăng lên 130mmHg thì khỏi bệnh :
http://www.ask.com/web?q=B12+Injection+ ... r&qsrc=466

2- Ý trụ đỉnh đầu huyệt Thiên Môn làm tăng áp huyết cho não và giữ Ý ở hệ thần kinh trung ương kích động các chức năng tạng phủ làm việc. Ý dẫn đầu các pháp, Ý ở trên đầu thì khí huyết trên đầu, khi hồn lìa khỏi xác theo ra đỉnh đầu khi gan không đủ máu giữ thể hồn.

3-Muốn giữ thần sắc hồng hào, cơ thể cần chất sắt trong B12 để tạo máu có công thức máu là oxyde sắt tam Fe2O3, có nghĩa là máu cần oxy từ hơi thở để duy trì giữ công thức máu khỏi tan vỡ chỉ còn lại chắt sắt làm cơ thể dư chất sắt mà vẫn bị thiếu máu. Nên cần phải theo dõi hơi thở ở đỉnh đầu nơi Ý đang trụ ở đỉnh đầu.

4-Muốn Thần với Khí hòa hợp nhất tâm bất loạn, tránh tâm viên Ý mã, và muốn cho linh hồn được tiến hóa thì Ý niệm thầm trong đầu hay nhấp môi khẽ 4 chữ A-Mi-Ta-Bà (AMITABHA) cho những người theo Công giáo để có một niềm tin duy nhất vào Thượng Đế, còn Đạo Phật dịch âm ra là A-Di-Đà-Phật là tượng trưng cho một đấng đã giác ngộ toàn năng toàn giác, giữ cho Tâm bình yên, tâm dừng mọi suy nghĩ, lúc đó chính tâm là Phật chứ Phật không ở ngoài tâm.
Vạn pháp do tâm sanh giống như có nghĩa vạn bệnh do tâm sanh. Vạn pháp do tâm diệt, có nghĩa là vạn bệnh do tâm diệt. Nên thánh nhân biết dừng tâm. Còn bệnh nhân phải biết dùng tâm tánh chuyển mạng bệnh, chứ đừng để mạng bệnh chuyển tâm tánh sẽ bị đọa vào tam cõi luân hồi.
Vẫn áp dụng phương pháp này giữ cho Thần với Khí hòa hợp là cách luyện đơn trong Đạo Tiên Thánh, gọi là Tánh-Mạng song tu thì thân thể khỏe mạnh không bệnh tật, và linh hồn được tiến hóa ở mức cao hơn cho đến khi giác ngộ đạt Đạo.
Về thức ăn tránh dùng những thức ăn có chất chua làm mất máu, mất hồng cầu và làm hạ áp huyết.

Có thể dùng CD/DVD dưới đây để tập giúp cho Thần Khí hòa hợp
CD niệm Phật Tứ giai và Ngũ giai . Phương Pháp Thiền Tịnh Song Tu
http://khicongtinhdo.blogspot.ca/p/blog-page.html
http://www.youtube.com/watch?v=2nKq5ubbPN8
http://www.youtube.com/watch?v=xo-vZ9WTQ50
Video Niệm Phật Địa Chung tứ giai từ chậm đến nhanh ( Thầy Thích Giác Nhàn) http://www.youtube.com/watch?v=I-FyZD1u3fw

Công dụng của CD niệm Phật này để niệm theo giúp hành giả giữ được nhất tâm bất loạn, để luyện hơi thở đều, để tập thở thiền quán tức theo dõi hơi thở bụng, để theo dõi hơi thở ra vào trên huyệt Thiên Môn ở đỉnh đầu (Luân Xa 7), để tập Sổ Tức khi cuốn luỡi ngậm miệng, để tập cho bệnh nhân bị tai biến mạch máu não tập nói, tập đi từ chậm đến nhanh, và cho những bệnh nhân bệnh mất trí nhớ, kém tập trung, làm tăng oxy cho máu nuôi tế bào, tập thở bụng trước khi đi ngủ để có giấc ngủ ngon...

doducngoc

Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

CD niệm Phật Tứ giai và Ngũ giai (A Di Đà Phật = A Mi Ta Bha)

Phương Pháp Thiền Tịnh Song Tu

http://khicongtinhdo.blogspot.ca/p/blog-page.html

Link: CD niệm Phật Tứ giai và Ngũ giai

Công dụng của CD niệm Phật này để niệm theo giúp hành giả giữ được nhất tâm bất loạn, để luyện hơi thở đều, để tập thở thiền quán tức theo dõi hơi thở bụng, để theo dõi hơi thở ra vào trên huyệt Thiên Môn ở đỉnh đầu (Luân Xa 7), để tập Sổ Tức khi cuốn luỡi ngậm miệng, để tập cho bệnh nhân bị tai biến mạch máu não tập nói, tập đi từ chậm đến nhanh, và cho những bệnh nhân bệnh mất trí nhớ, kém tập trung, tập thở bụng trước khi đi ngủ để có giấc ngủ ngon...

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Đo Áp Huyết Sẽ Biết Được Cách Chữa Đúng Vào Những Bệnh Thuộc Khí-Huyết Hư-Thực, Hàn-Nhiệt

Tiêu chuẩn áp huyết theo KCYĐ :

90-95 (1 tuổi đến 5 tuổi) mạch nhanh không chính xác.
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.(6 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi-17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Thí dụ lấy tiêu chuẩn áp huyết ở lứa tuổi trên 60 :

130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Số thứ nhất 130-140 là tâm thu, chỉ áp lực Khí đẩy huyết, thuộc Khí. Số thứ hai 80-90 là tâm trương chỉ lượng máu qua van tim, máu qua ít van tim mở hẹp lại, lượng máu qua nhiều van tim mở to ra, nên số thứ hai biết được tình trạng của Huyết. Số thứ ba chỉ nhịp tim chậm thuộc Hàn, nhịp tim nhanh thuộc Nhiệt.

A-Những bệnh thuộc Khí theo đông y có những số đo áp huyết như sau ở tuổi trên 60 :

Khí Thực : trên 150/80-90mmHg nhịp tim 70-80

Khí Hư : Dưới 120/80-90mmHg nhịp tim 70-80

Khí Hàn : 130-140/80-90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Nhiệt : 130-140/80-90mmHg nhịp tim trên 90

Khí Thực Hàn : Trên 150/80-90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Thưc Nhiệt : Trên 150/80-90, nhịp tim trên 90

Khí Hư Hàn : Dưới 120/80-90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Hư Nhiệt : Dưới 120/80-90mmHg nhịp tim trên 90

B-Những bệnh thuộc Huyết theo đông y có những số đo áp huyết như sau ở tuổi trên 60 :

Huyết Thực : 130-140/ trên 90mmHg nhịp tim 70-80

Huyết Hư : 130-140/ dưới 70mmHg, nhịp tim 70-80

Huyết Hàn, Huyết Nhiệt : Không có trường hợp này mà lệ thuộc vào Khí Hư hay Thực

C-Những bệnh thuộc vừa Khí vừa Huyết theo đông y có những số đo áp huyết như sau ở tuổi trên 60 :

Khí và Huyết Thưc : Trên 150/trên 90mmHg nhịp tim 70-80

Khí và Huyết Hư : Dưới 120/dưới 70mmHg nhịp tim 70-80

Khí và Huyết Thực Nhiệt : Trên 150/trên 90mmHg nhịp tim trên 90

Khí và Huyết Thực Hàn : Trên 150/trên 90mmHg nhịp tim dưới 65

Khí và Huyết Hư Nhiệt : Dưới 120/dưới 70mmHg nhịp tim trên 90

Khí và Huyết Hư Hàn : Dưới 120/dưới 70mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Thực Huyết Hư Nhiệt : Trên 150/dưới 70mmHg nhịp tim trên 90

Khí Thực Huyết Hư Hàn : Trên 150/dưới 70mmHg nhịp tim dưới 65

Khí Hư Huyết Thực Nhiệt : Dưới 120/trên 90mmHg nhịp tim trên 90

Khí Hư Huyết Thực Hàn : Dưới 120/trên 90mmHg nhịp tim dưới 65

Tất cả những trường hợp áp huyết như trên, đối với tây y không phải là bệnh, nên không thể biết cách chữa, nhưng đông y bắt mạch chính xác và kiểm chứng lại bằng máy đo áp huyết sẽ có những con số cụ thể, từ đó mới có cách chữ đúng theo phương pháp Đối Chứng Trị Liệu Lâm Sàng, bằng thuốc hay ăn uống bằng Tinh điều chỉnh tăng giảm Huyết, cách tập Khí để điều chỉnh tăng giảm Khí, điều chỉnh Thần ở Đan Điền Thần tăng nhiệt hay Đan Điền Tinh ở huyệt Khí Hải giảm nhiệt.

D -Trường hợp đặc biệt :

Đối với tây y :

Khi nhịp tim cao hơn 120 mà cơ thể tăng nhiệt là sốt cao, có hai loại : máu nhiễm trùng và máu không nhiễm trùng, nhưng không biết Khí hay Huyết Hư hay Thực đẻ có cách chữa khác nhau như đông y.

Còn trường hợp nhịp tim nhanh, nhưng đo nhiệt kế không có sốt, tây y thử máu không có nhiễm trùng thì bó tay, trường hợp này đông y gọi là nội nhiệt ngoại hàn.

Riêng trường hợp hư nhiệt giả hàn, hư hàn giả nhiệt thuộc bệnh nan y, đông y gọi là thương hàn, nhưng vẫn không phát hiện ra được dấu hiệu sắp bị bệnh ung thư thực chứng và hư chứng.

Ung thư theo kinh nghiệm bằng máy đo áp huyết so với tiêu chuẩn tuổi là thiếu máu trầm trọng trong suốt thời gian dài 30-40 năm khi ở tuổi người lớn mà áp huyết chỉ bằng trẻ em còn trong bụng mẹ, áp huyết tâm thu thuộc khí dưới 80 :

Khi cơ thể thiếu khí (dưới 80) sẽ không đủ khí lực đẩy máu tuần hoàn theo đông y, nhưng theo tây y, không đủ oxy để duy trì công thức máu Fe2O3 làm mất máu chỉ còn lại chất sắt Fe2, nhưng không thể bồi bổ máu cho cơ thể thêm chất sắt sẽ dư thừa. Ngược lại theo Khí Công cơ thể dư chất sắt chỉ cần tập khí công tăng thêm oxy cho máu thì tế bào máu được phục hồi, nhưng nếu cơ thể thiếu lượng máu, thì tập khí công thì khí dư huyết vẫn thiếu, nên vẫn cần bồi bổ huyết bằng ăn uống hay chích B12 và tập bài Nạp Khí Trung Tiêu, Đứng Hát Kéo Gối Lên Ngực làm tăng khí huyết, tăng áp huyết và tăng hồng cầu.

Những bệnh ung thư thường có áp huyết như :

80/70-80mmHg nhịp tim 60 người lạnh chân tay lạnh, thuộc chứng hư mãn tính

80/70-80mmHg nhịp tim 120 trong người nóng (hư nhiệt) chân lạnh, bàn tay nóng, mặc áo ấm đắp chăn ấm.

Tạng phủ nào trong cơ thể thiếu máu đến nuôi dưỡng, tế bào nơi đó sẽ bị suy yếu dần trở thành tế bào ung thư, nên tây y xác nhận ung thư không có vi trùng, nhưng không tìm được nguyên nhân gây ra bệnh ung thư vì không biết nguyên nhân do khí huyết bằng cách kiểm chứng bằng máy đo áp huyết.

Khi không có tạng phủ nào có dấu hiệu tế bào ung thư, thì ung thư đó thuộc về ung thư máu.

Cách chữa đúng được kiểm chứng theo dõi áp huyết tăng dần, đúng và đủ theo tiêu chuẩn tuổi. Cách chữa sai khi áp huyết giảm dần xuống 70mmHg thì bệnh nhân chết.

Để phòng ngừa ung thư, những ai có áp huyết dưới 100 cần chích B12 và ăn uống những thức ăn bổ máu, tập luyện khí công.

Theo đông y ung thư không có di căn, khí huyết hư không truyền bệnh theo vòng tương khác, mà chỉ truyền theo vòng tương sinh mẹ con.

Nơi gọi là di căn là nơi tế bào đã thiếu máu sẵn, nhưng chỉ có nơi có nhiều tế bào thiếu máu được phát hiện ra trước, rồi nơi khác theo thời gian cơ thể thiếu máu tiếp sẽ bị phát hiện ra sau, vì theo tây y khi chữa ung thư gọi là khỏi bệnh thì áp huyết vẫn ở mức thiếu dưới tiêu chuẩn tuổi.

Những người có bệnh cao áp huyết mà uống thuốc hạ áp huyết xuống dưới tiêu chuẩn tuổi, theo cách chẩn mạch của đông y cũng sẽ có biến chứng thành bệnh khác.

Thân

doducngoc